Tôi thích đứng
trước biển nghe bão gầm rú.
Sóng mãnh liệt. Những cột sóng cao
ngất, vọt lên không trung rồi ầm đổ ập vào bờ. Sóng bải hoải chịu thua đất liền.
Sóng thét lên oai hùng rồi ngất ngưỡng tan ra thành nước mềm. Và gió, gió vít
cong hàng phi lao. Tiếng gió thổi ảm u.
Cảm giác mình là hạt cát, bay lên
không trung, nhẹ tênh; hoặc hoá thân làm ngọn gió cuồn cuộn thổi về vô tận, làm
con sóng nổi nênh phiêu dạt mơ hồ. Đứng trước
bão biển, bao lần tôi ước ao. Rổi giọt mưa lạnh buốt làm tôi chợt tỉnh. Bão
luôn ồn ào từ
phía đại dương, bão đến từ những đám mây đen lưng chừng trời và bọt biển tung
trắng xóa. Nhìn ra mắt bão, một màu xám xịt.
Đợi đến lúc gió hú lên man dại và
mưa như trút, tôi tung tăng chạy vê nhà. Ngày đó chưa có điện, cả làng thắp đèn
dầu, toàn xã Cương Gián tối om. Mọi căn nhà đều cửa đóng then cài kín như bưng
tránh gió. Từ chiều, bản tin
trên Đài Tiếng nói Việt Nam đã thông báo tin bão khẩn cáp, tin bão gần bờ. Hình
như cả làng
cả xã chẳng có chiếc tivi nào.
Nhà nào nhà nấy mua thêm dầu, đong
thêm gạo, dự trữ thêm cá khô dự phòng trong ba ngày mưa tháng rét. Những căn
nhà tranh nép sát vào nhau dọc bãi biển luôn bị giông tố uy hiếp, để chống chọi
với gió mạnh, nào nhà nấy giăng lưới trùm kín ngói, lấy chạc cột mái nhà với gốc
cây để phòng gió giật tốc ngói, sập tường.
Ngày đó, tôi sống giữa hai chỗ ở,
hoặc là nhà nội, có ông bà, o Liên[1]
và em gái; hoặc trú ở nhà bác Thọ. Bố tôi nghe nói đi Liên Xô. Tôi sinh ra, lớn
lên, bố đi biển biệt.
Tôi khóc. Chú Nam vừa đánh tôi. “Đi
mô giữa đêm hôm mưa gió, thằng kia?” chú huơ ngọn roi vun vút trên đầu. Chú như
cha mình. Đánh tôi đau nhất nhưng cũng thương tôi nhất. Răn dạy đến nơi đến chốn.
Nói trước quên sau là alê, bợp tai ngay. Có hôm tôi đánh nhau với cu Hận ở xóm
Đông Tây khiến nó máu me be bét, chú cầm hai chân, quăng tôi vào tường rơi cái độp.
Ngoài những trận đòn của chú Nam, tôi thường bị ông y tá hàng xóm hành nghề
tiêm người thường xuyên doạ mổ bụng moi gan, khi tôi làm nũng và khóc. Nhiéu bữa,
ông Chắt Vượng nhà trước ngõ lôi xềnh xệch tôi sang nhà ông, dùng thúng buộc
dây thả tôi xuống giếng. “Khóc nữa không? Khóc nữa là ông thả dây cho mi chìm
nghỉm luôn!”
Mỗi lần tôi
khóc, các o lại lôi tôi sang nhà ông y tá, gạch rồi hè nhau giữ chặt hai tay
hai chân tôi lại để ông y tá dọa dẫm. Rất
chậm rãi, ông ta mở túi đồ nghề, lấy ra
nào dao, nào kéo, cái nào cái nấy bóng loáng, cứ thế gí sát vào bụng khiến tôi
khóc ré lên, khiếp đảm.
“Cháu nín rồi!” tôi hổn hển.
“Chừa chưa? Khóc nữa không, cu?”
ông y tá trợn mắt.
“Cháu chừa rói! Nín rồi!” miệng tôi
đắng ngắt.
Những trận
đòn khủng khiếp ngày đó, gần ba mươi năm sau vẫn làm tôi giật mình trong mơ ngủ.
Cái cảm giác hãi hùng khi các o nắm tay thằng bé lôi sền sệt qua ngõ, bước qua
bức tường thấp lè tè dẫn sang nhà ông y tá mà mỗi lần qua đấy, tôi buộc phải
nhón chần, im thin thít. Lớn lên, tôi nghe o Lý em chú Nam vỗ về: “Mi ngoan thì
ngoan, mà cũng hay lèo nhèo. Mi như con búp bê!” o Lý, o Đào,
o Hồng, o Liên,
là những người chiều chuộng
“con búp bê” nhất nhà. Các o, các chú chưa lập gia đình, thành ra tôi là đứa cháu
duy nhất. Nhỏ tuổi nên được các o các chú cưng chiều. Mỗi lần ông Thọ đi biển về được
cá tươi, mực tươi, bà Thọ chọn con nào ngon nhất dành phần cháu. “Bay to xác,
ăn chi nhiều! Để dành cho thằng cu!” bà Thọ nạt các con. Bà thương tôi hơn
thương con.
Chúng tôi
ngồi bên nhau, chờ bão. Bão mạnh trên cấp 12. Gió ầm ào suốt hai ba tiếng đổng
hồ rồi đột nhiên lặng yên. Không khí ngột ngạt, oi bức. Trước khi bão đến đất
trời thường lặng gió, ngột ngạt và oi bức.
“Bão vô! Bắt đẩu rồi đấy!” chú Nam
nói.
Ngô rang trộn lạc rang là hai món
thường diễn ra trong những ngày mưa, tháng rét ở quê. Nằm trên
giường nhâm nhi hạt ngô rang, thò chân ra cửa sổ cho từng giọt mưa nhỏ tí tách
bàn chân hoặc trùm kín chăn nghe tiếng sấm vang rền cười khúc khích, thú vị lắm.
Bác Thọ thường hát ru tôi. Điệu trống quân. Kể chuyện ngày xửa ngày xưa quýt
làm cam chịu. Câu chuyện thầm thì trong dầm dê mưa lạnh, tôi thấy mình bay bổng
muốn hoá thân thành những nhân vật cổ tích.
Ngớt mưa thoáng chốc, lũ trẻ
trong xóm nghèo ùa nhau ra đường, bứt lá tre kết thuyền thả xuống dòng nước nhỏ.
Tiếng trẻ nô đùa ỏm tỏi. Thót tim ngóng những con thuyền lá tre nhỏ xíu vượt qua vũng nước lầy
lội trên ngõ xóm.
Gió tăng tốc.
Và mưa.
Bão đến.
Tiếng gió rít, mưa tuôn,
thành tiếng động rợn người. “Giữ chặt cánh cửa. Cửa bung là nhà sập đấy!”, chú
Nam ra lệnh. Chúng tôi cố thủ sau cánh cửa. Gió giật mạnh liên hồi như có trăm
bàn tay bám ngoài cánh cửa lay dữ dội. Bây giờ thì trong nhà cũng như ngoài
sân, ướt sũng, đầm đìa. Đầu hồi
bên kia tường rung lên từng đợt đe doạ. Nhà sắp sập chăng? Tháo chạy ra đường?
biết chạy đi đâu? Cố sống cố
chết bám trụ với căn nhà.
Gió rít từng cơn. Mấy viên
ngói rơi xuống, đập vào chồng
bát đĩa, vỡ tan. Bỗng lơi tay, cánh cửa chính bung ra, gió lùa hun hút.
“Chạy thôi. Không ở đây
được nữa mô!”
Chú Nam, chú Thọ, chú Tửu hô
mọi người rời căn nhà lánh nạn. Bốn phía, tường rung lên bần bật. Mặt đất như
chao đảo.
Ngoài đường, cấy côi ngả
nghiêng. Gió đẩy tôi chạy
phăng phăng lên những tấm giấy dầu ướt đẫm trên nẽn đất. Mấy ngôi nhà tranh xiêu vẹo, tiêu điều.
Vèo. Tôi trông lên. Một chiếc mâm trắng xoá của nhà ai bị gió hất tung, bay
nghiêng nghiêng qua đầu. Vừa rời nhà thì triều dâng, sóng biển ập đến. Biển bây
giờ hung ác. Bãi cát dài phẳng phiu hàng ngày lũ trẻ chúng tôi thường nô đùa đã
bị sóng lớn nuốt chửng. Sóng tràn qua bãi phi lao, đánh sập những căn nhà sát
biển. Nước đỏ ngầu, sục sôi. Chẳng hiểu biển giận gì ai?
Chạy. Càng xa bờ càng tốt.
Nhà của nội là nơi an toàn nhất. Ngôi nhà xây trên nền đất cao ráo, cột lim do
ông nội tôi lên Xuân Thành mua về đã vài ba năm. Để chống bão,
ông nội gia cố xi măng gắn những viên ngói liên nhau và đắp thêm chục bao tải bằng
cát trên mái ngói. Xa biển, gió yếu hơn. Mưa thì hồn nhiên mặc kệ. Nước sẽ ngấm
vào đất, nước sẽ chảy ra biển, sẽ tan đi. Đất cát ở vùng bãi ngang ven biển có
sức hút nước kỳ lạ. Mưa rả rích cả ngày lẫn đêm, bãi cát vẫn không bị ngập nước.
Mọi người trong nhà đón chúng
tôi. Cửa vừa hé mở đã đóng chặt. Đừng để lưỡi gió thò vào. Đừng để ngói bung lên
và tường vỡ ra.
Ông nội tôi mắng:
'‘Đi mô mà giờ mới
vê’?”.
Tôi cười trừ. Nụ cười
ướt đẫm cơn mưa.
Bão vần vũ liên hồi. Tiếng động ẩm ẩm như có
trám nghìn ngựa phi. Gió đầu hồi cuộn theo nhau rú rít tùng cơn khiếp đảm. Chợt
tiếng động ầm ĩ lắng dần. Cửa vừa hé mở đã phải đóng chặt lại ngay. Bão lại nồm[2]
mới khủng khiếp. Bão lại nồm có những cú giật kinh hoàng hơn, ghê gớm hơn. Và hầu
hết tai nạn thường xảy ra trong giờ phút tưởng chừng như bão đã tan.
Tiếng ầm ẩm trở lại hoà lẫn
trong tiếng cây vặn mình răng rắc. Tiếng ngói vỡ. Tiếng người kêu cứu thất
thanh. Lưỡi gió thò vào những lỗ hổng chưa được bịt kín trên mái nhà, hẫt tung
từng mảng ngói. Sợ nhà sập, ông nội tôi vội vã lấy thang trèo nóc nhà rồi bỗng
nhiên ông nằm rạp xuống, ông dang hai tay bám chặt, láy thân mình đè lên những
viên ngói cho chúng khỏi bị gió cuốn đi.
Tôi vùng chạy ra ngoài sần
tìm cách tiếp ứng cho ông, nhưng tôi nhỏ quá không trèo được lên mái nhà. Giữa
trời mưa gió nhìn ông ướt sũng đánh vật với gió mưa, lòng tôi se lại. Tôi bật khóc.
*
Bão tan, mọi người ùa ra sân.
Xung quanh vườn tược đã biến dạng. Bụi tre xanh um tùm đầu ngõ ngả nghiêng, gió
đánh bật gốc. Tre nằm nghiêng mỏi mệt. Xoan đâu, phi lao, hàng cây dọc xóm oằn
mình xơ xác. Tiêu điều
mấy cái cột chỏng chơ. Giấy dầu lợp nhà gió quăng tứ tung, xé toang từng mảnh.
Ngói và tường gạch vỡ tan nằm rải rác khắp nơi. Nhìn đâu cũng thấy mảnh vỡ.
Trưa lặng ngắt. Có tiếng trống
đưa ma nổi lên ở thôn Đông. Vài người chết.
Những gương mặt thẫn thờ như
vừa qua một đêm dài khủng khiếp đầy ác mộng. Mất mát. Đau thương. Làng nghèo lại
thêm nghèo. Nội tôi đi gom từng mảnh vỡ. Lưng nội còng xuống, trĩu nặng. Tôi chạy
ra phía biển. Sóng đã lùi xa. Biển trở về dáng vẻ hiền lành giả dối. Vài người dân làng chài vùng bãi ngang,
biển hai vai cưu mang những phận người, nhưng mọi hiểm nguy cũng đều đến từ phía biển.
Có những con thuyền ra khơi
giờ đã lạc trong giông tố, không về. Sau mỗi trận cuồng phong quét qua làng
chài, thế nào cũng có ngư thuyền bị sóng đánh chìm. Người cha ở làng bên lầm
lũi đi dọc bờ biển tìm xác con mình. Người đàn ông không khóc. Đôi mắt khô cạn
ngước nhìn như cầu khẩn “bác ơi, có thấy người nào trôi dạt vào đây không?” Lắc
đầu. Người cha lặng lẽ đi về hướng lạch Kèn. Nơi ấy xuống tý nữa là Cửa Sót, Thạch
Kim, Thạch Hà nơi làng tôi quen gọi đùa theo một nhà thơ là “Thạch Nhọn”. “Em ở Thạch Kim sao đùa
anh là Thạch Nhọn?’™.
Tôi đứng trước biển. Mơ hổ
vê' những năm tháng tuổi thơ. Lấm lem cát bụi. Nồng nàn gió Lào. Dữ dội.
Dịu êm. Đắng cay. Ngọt mềm. Đã lâu rồi không được đứng trước biển chờ
bão, dù là những cơn bão quáng quật, nát tan, lòng tôi trống vắng.
2.
Những chuyến đi biển
bao giờ cũng hấp dẫn tôi kỳ lạ.
Chiều xuống.
Mặt trời chầm chậm rơi xuống
đỉnh núi Hồng Lĩnh, gió từ Đông mát lành ùa vể ở phía đại dương. Làng chài bừng
tỉnh. Già trẻ, gái trai, đàn ông đàn bà nườm nượp kéo nhau cả ra bờ biển. Người
khệ nệ bưng can đựng nước ngọt, kẻ oằn mình cõng gạo, hỗi hả gồng gánh thực phẩm
và nước uống bốc lên thuyền. Dăm ba thanh niên vai ướt đẫm mổ hôi lăn chiếc
thùng phuy đựng dầu qua bãi cát. Những gương mặt đen đúa khắc khổ lẫn trong tiếng
cười lớn như sóng vỡ.
Thuyền trưởng rung
chuông.
Con thuyền rùng mình, rẽ sóng. Tôi ngồi trước
mũi thuyền dang tay đón gió. Phía trước, âm thanh từ buồng máy đã lạc đi trong
tiếng sóng biển rạt rào. Bãi bờ lùi xa. Ngôi làng nhỏ thân yêu, những hàng cây
phi lao cũng lùi xa. Núi Hồng Lĩnh thoáng chốc đã khuẫt dần sau lưng. Sau thuyền
mẹ có một chiếc thuyền con mang máy phát điện. Thuyền mẹ kéo thuyền con bằng một
sợi dây to bằng cồ tay, dài ba bổn chục mét.
Thuyền mải miết chạy. Gió mát
trời trong, tôi thiêm thiếp ngủ và lúc tỉnh dậy thì chẳng nhìn thấy bờ nữa. Bốn phía thăm thẳm
một màu xanh. Xa xa, đường
chân
trời im lặng mờ nhạt.
Vị thuyền trưởng già,
tóc hoa râm, căng đôi mắt nhìn ra biển khơi, ông điều khiển con thuyển bằng đôi tay rắn chắc
và bằng kinh nghiệm sóng nước của mình. Chẳng cần nhìn vào la bàn, vị thuyền
trưởng cũng có thể biết hướng cần đến và điểm nào trên biển có luồng cá để tắt máy, buông neo. Tôi rời
mũi thuyền, chăm chú ngồi ngắm ông cầm lái. “Bác cho cháu chạy thử được không?”
tôi đề nghị. “Được, giữ
yên tay lái thế này nhé”, giọng ông ôn tồn. Chiếc cần lái nối với bánh lái làm bằng một đoạn cây phi lao,
trơn bóng.
Buông neo.
Tiếng máy tắt ngấm.
Thuyền lắc lư, trùng triềng rồi dừng hẳn. “Đây cách bờ bao nhiêu cây sổ hả
bác?” tôi hỏi. “Khoảng hai mươi sải nước”, thuyền trưởng đáp. Người dân bãi
ngang Nghi Xuân - Hà Tĩnh tính chiều dài xa bờ bằng sải nước. Hai mươi sải nước
là hai mươi sải tay, tính từ thuyền đến đáy biển.
Trời tối, váng vất.
Cơm dọn ra. Cơm không canh, không rau. Chỉ có cá và cá. Cá khô, cá tươi kho mặn.
Khoái nhất khi đi biển là được ăn nhiêu cá. Từng mẻ cá nục, cá ngừ, cá thu cất
lên, con nào con nấy tươi roi rói giãy đành đạch chất đầy khoang. Có con tung
mình nhảy lên cao vài mét, tiếng cá chép miệng rào rào. Ngư phủ lấy chiếc vợt
lưới, chao một cái giữa khoang thuyền đã được một vợt đấy cá. Nắm lấy từng con,
bẻ cái rắc, vứt đầu cá xuống biển, chỉ giữ lại phần thân rồi ném cái tõm vào nồi
nước mặn đang sôi sùng sục. Mấy phút sau
mở nắp vung, mùi cá chín bốc
lên nồng nàn, thơm phức. Có hôm, chúng tôi ăn toàn cá tươi luộc, thay cơm.
Sau mấy giờ đồng hồ trên biển, tôi ngấm
sóng, hai tai bùng nhùng, cảm giác lâng lâng khó bưng nổi bát cơm.
“Đêm nay, cu cậu tha hồ câu mực
nhé”, thuyền trưởng
nói. Tôi rất thích câu mực.
Tiếng máy nổ. Bên kia, chiếc
thuyền con đã bật máy
phát điện. Mấy chiếc đèn pha chĩa xuống biển tăm tối, tạo thành quầng sáng sâu
thẳm. Ban đêm, ánh sáng phả ra từ đèn điện sẽ làm cho bầy cá, bẩy mực say mồi.
Chúng tôi buông câu. Trong
khi chờ chiếc thuyền
con giong đèn gọi cá vào, các thuyền viên mỗi người lẳng lặng toả về một góc
vào vị trí để câu mực. Chú Thọ đưa cho tôi một ống dây cước, vài chiếc câu lỏn,
câu có 5 lưỡi, uốn quanh một khúc chì hình con mổi được quấn kỹ bằng dây thun
phản quang. Tôi ngoắc câu vào dây, ném bùm xuống nước và lặng yên chờ đợi, nghe
ngóng.
Câu mực không khó, nhưng phải
có ít nhiều kinh nghiệm, nếu không bầy cá máo(l) sẽ dùng hàm răng sắc
như lưỡi lam cắn đứt dây cước. Tôi
thả 10 sải. Năm phút, mười phút trôi qua, chợt dầy cưới nhẹ bẫng. Cảm giác như
có bàn tay nào dưới nước nâng con mồi lên. Tôi giật mạnh, thấy nằng nặng. “Mực
hay là cá nóc đảy?” tôi tự hỏi và nhanh tay cuốn dây. Càng lại gần nó càng giãy tợn.
A, một chú cá nóc! Hơi thất vọng. Chú Thọ giúp tôi gỡ con cá nóc ra khỏi lưỡi
câu, ném nó vào chiếc rổ. Chú căn dặn: “Gỡ cho khéo, không cẩn thận là gai gió đâm rách da. Loại cá ni độc,
nhưng thịt trắng như trứng gà bóc!”
“Cá nóc cũng ăn được hả chú?”, tôi hỏi
chú Thọ.
“Cá nóc cơm nhỏ bằng hai ngón
tay, thịt thơm, ít độc, ăn được. Cá nóc hoa, có con nặng vài cần, gai tua tủa
trên lưng, ăn vào chết luôn!”
Làng Song Phượng bên cạnh, có
ba anh em đi trên một chiếc thuyền câu được con cá nóc nặng 3kg. Vứt đi thì tiếc,
họ đưa về xẻ thịt, luộc
lên nhắm rượu. Bữa cơm vừa xong thì cả ba người lăn đùng ra đất, nôn thốc nôn
tháo, mặt mày tái mét. Đi viện cấp cứu ba người, hai người chết.
Câu mực trên biển là một thú
vui. Chọn con mực to nhất tôi dùng dao xẻ đôi chú mực tươi, mang lại gần bóng
đèn, nướng lên. Hơi nóng phả ra từ bóng đèn trong chốc lát đã hun chín con mực,
màu thịt trắng hồng chuyển sang vàng ruộm, thơm lừng.
“Cháu tắm nhé!”
Tôi nhìn chú Thọ, đế nghị.
Tôi muốn nhảy ùm xuống biển, bơi tung tăng, thoả thích giữa đất trời lộng gió.
“Ở đây nhiều cá mập, và đẻn(1) thì nhiều vô kể. Theo chú, tốt hơn hết là đừng nhảy xuống
biển. Cứ múc nước trong can mà tắm cho an toàn, cu à!”
Chú Thọ nói. Tôi giật mình.
Xung quanh thuyền xuất hiện mấy con đẻn đang ngoe nguẩy. Chẳng ai thèm vớt lũ đẻn.
Hồi đó, bắt được đẻn, dân chài lại vứt đi hoặc đưa về lột da, xẻ thịt, băm viên
thành chả rán lên mang ra bãi cát nhắm rượu. Dọc bờ biển, thi thoảng lũ đẻn dạt
vào, chết không một tiếng vang.
Gần sáng, số mực câu được đã
kha khá. Chú Thọ câu được chừng mười cân mực thước, chiều dài bằng hai gang tay. Đây cũng là
lúc chuẩn bị cất vó lũ cá bị ánh đèn mê hoặc. Thuyền trưởng chắp tay đi đi lại
lại trên boong, thả lưới vây bắt cá lúc nào ông sẽ ra lệnh và ông cũng chính là
người cầm lái tổ chức cho “trận đánh” đêm nay. Vị thuyền trưởng nhìn đồng hồ,
nhìn trời, xem hướng gió. Chắc ông đang nhẩm tính giờ G và tính toán xem nên
cho thuyền bao vây từ hướng nào sao cho hiệu quả nhất, tiết kiệm sức lực. ông bảo
một thuyền viên: “Cậu và tó chèo thuyển thúng sang bên kia xem thế nào”.
Chiếc thuyền thúng rời thuyền mẹ, xoay tròn một
vòng rồi ngoan ngoãn bị khuất phục trước bàn tay cầm chèo lão luyện của anh
chàng ngư phủ. Gió mạnh. Biển ồn
ào. Từng đợt sóng lững lững đập vào con thuyền nhỏ khiến nước bắn tung toé.
“Anh em chuẩn bị thả lưới”,
thuyển trưởng nói sau khi trở về từ thuyền con. “Tình hình ra răng hả bác?” có
người hỏi. “Toàn cá trích”, thuyền trưởng trả lời. Ông rung chuông. Trận đánh bắt
đầu.
Máy bên thuyền mẹ khởi động.
Tôi run lên, không phải vì lạnh mà vì hồi hộp đợi xem mẻ lưới đêm nay. Thuyền mẹ chạy chầm chậm quanh
thuyền con, chạy tới đâu lưới thả tới đó, thành một vòng tròn khép kín. Thêm mấy
chiếc thuyền thúng được thả xuống làm vệ tinh cho thuyền lớn. Thuyền thúng có
nhiệm vụ kiểm soát tấm lưới. Khi
hàng trăm sải lưới đã
hình thành vòng tròn, chiếc thuyền
con đã nằm lọt bên trong lưới, lũ cá không biết mình đang bị bao vây, mải miết
đuổi theo ánh đèn. Lưới
được kéo lên từ bàn tay khoẻ mạnh của những ngư dân. Vòng tròn khép dần. Bỗng
nhiên ánh đèn vụt tắt, thuyền
con lặng lẽ thoát ra. Bầy cá bàng hoàng bơi tứ tung tìm lối thoát, có con nhảy
vọt lên rồi lại rơi ùm tõm xuống mặt biển. Nhưng mắt lưới đã ngăn cách chúng với
đại dương.
Một trận đánh thắng lợi. Tất
cả số cá đánh bắt được ước chừng ba tấn, toàn cá trích, đúng như lời thuyền trưởng Trần Thới nói.
Có lần, thuyền
ông Thới đánh một mẻ lưới,
được 5 tấn cá sủ vàng. Cá mang vê' xẻ thịt, bong bóng cá sủ vàng
đem phơi khô làm thức ăn chứ chẳng biết bán cho ai.
Chúng tôi xác định được phía
đầu là phía đông, khi bình minh lên. Bình minh tốt lành báo hiệu từ màu hồng ở
đường chân trời. Xa xa, từng gợn
sóng nhô lên, lấp lánh. Cả vùng biển như được dát bạc.
Thuyền quay vào bờ. Phấp phới
trước mũi thuyền cờ đỏ tung bay, dấu hiệu để các thuyền bạn và ngư dân trên bờ nhận thấy chuyến
đi an toàn, đánh được nhiều cá. Tôi nhìn ra xung quanh, nhiều chiếc thuyền vẫn
đang dò dẫm. Cuộc đánh bắt đêm qua chưa đủ để họ có thể quay về nên đành phải nán lại thêm một hai
ngày, nhưng có thể là một tuần hoặc lâu hơn. Trên đường về, có vài chiếc đêm
qua gặp sự cố không phát điện được, họ xin cá làm mối và làm thức ăn. Đối với
những con thuyền kém may mắn như vậy thuyền trưởng của chúng tôi đều hào phóng tặng cá. Mỗi thuyền vài ba thúng cá đầy ụ. Mặt trời
lên ngang cây sào, bữa ản sáng dọn ra, nổi cá trắng tinh nấu bằng nước biển bốc
khói nghi ngút. Chú Thọ vừa nâng bát cơm vừa chép miệng: “Đây là thứ gạo ngon
nhất gia đình không dám àn, chỉ dành cho những người đi biển”. Rồi chú tồi
khóc: “Biết khi mô mới hết khổ?”.
Thuyền trường nói: “Được một
mẻ lớn, phải vui lên chứ”. Tôi nhìn khắp boong, những gương mặt dãi dầu sương
gió, những mái tóc khô cứng vì muối mặn. Trong niềm hân hoan sáng mùa hè lênh
đênh năm ấy, lòng tôi thoảng nỗi xót xa. Tôi thương những con thuyền mỏng manh,
thương những ngư phủ nghèo quanh năm bám biển, cả bờ cát dài phẳng phiu và hàng
cây phi lao êm đềm những
trưa hè tĩnh mịch.
Chú Thọ đã xong bữa ăn sáng.
Chú lặng lẽ đi về một
góc, cầm điếu cày châm đóm, rít một hơi dài.
Những người khác tản ra, người
quây lại đánh tổ tôm, người lăn ra ngủ. Cần ngủ một giẫc no nê bù cho thức trắng
đêm qua. Tôi thiếp đi, thức dậy khi thuyền đã gần bờ. Vị thuyền trưởng chỉ nhìn vào đỉnh núi là biết hướng về quê hương, nhìn
vào ngọn cây là biết cửa ngõ nhà mình. Trong những đêm tối trời chạy bão, tay
lái vững vàng như được điều khiển bằng niềm tin vào đất mẹ. Niềm tin mãnh liệt,
kinh nghiệm cắt sóng vượt trùng khơi giúp ông không bao giờ lạc hướng, dù đường
về xa xôi, dù bão giông
nghiêng ngả, dù phong ba gào thét ú tim.
Tôi úp mặt lên bàn tay mình. Nước mắt biển, hay
là muối mặn...Nỗi vất vả hằn lên đường
làng.
Những con đường đất ôm lấy
ngôi làng nhỏ thân yêu. Đường đi lên núi, đường ra bờ sông, đường chạy thẳng ra
phía bình minh. Mỗi lúc hoàng hôn và bóng đêm dần buông, đám thanh niên lại í ới gọi
nhau đi tán gái hoặc tụ tập trên đường làng. Lũ trẻ lấy đường làng ngõ xóm chơi
trò đánh trận giả, trò rồng rắn; bịt mắt bắt dê. Mọi ngõ ngách đường làng khi tàn ngày vào đêm
luôn huyên náo, ầm ĩ.
Nhưng sự náo nhiệt kéo dài chẳng
bao lâu. Không có điện,
cả làng rủ nhau tắt đèn đi ngủ sớm. Trong đêm khuya thanh vắng chỉ còn lại ánh
đèn pin lẻ loi của mấy chàng đi tán gái về muộn, tiếng chó cắn ma ngẫu hứng sủa trong đêm. Bà Thọ bảo: “Ở
mô có đom đóm, ở đó có ma trơi!”. Thỉnh thoảng bà ra biển ngóng nhìn hừng đông,
thấy những đám mây kết thành hình người, bà Thọ nói “Đó là những hôn ma. Linh hồn
của những
ngư dân đi biển gặp nạn hiện hình lên đấy!”.
Đường làng trưa nóng bỏng bàn
chân. Gió Lào thiêu đốt tung lên những quầng bụi đỏ qua cồn cát đầu làng. Trưa
đứng im, tiếng rao của người bán kem lạc trong nắng ú oà mệt mỏi. Tôi nằm trên
chõng tre nghe âm thanh pipò, pipò quen thuộc của người bán kem vọng tới, vội
vùng dậy tìm cho được một cái gì đó để mang ra đổi lấy que kem. Chiếc dép cũ đứt
quai, một chiếc vung bằng đồng bị sứt môi, cái can nhựa thủng đáy... đồi tuốt!
Cô bán kem dừng đạp xe sà vào
bóng râm, cầm trên tay món hàng ngắm nghía định giá xem nó đáng đổi được mấy que
kem, rổi hạ một câu xanh rờn: “Hai cái nhé”. Tôi gật đầu. Cô bán hàng mở nắp,
hơi lạnh toát ra, mang theo thứ mùi thơm ngao ngán. Những que kem ngày ấy, sao
mà ngon tê tái. Chúng tôi không dám cắn, chỉ dám đưa lên mút từng tí một, vừa
mút vừa ngắm xem đã ăn hết đến đâu rồi. Tay phải cầm que kem lạnh buốt, tay trái hứng bên dưới đê
phòng kem chảy nước. Giọt nào rơi xuống bàn tay trái, liền đưa vào mồm “xử lý”
ngay, tuyệt đối không được rơi xuống đất một giọt nào.
Tiếng rao của người bán kem,
âm thanh ngái ngủ, cả màu trắng đục lạnh tê người và hình dáng chiếc que nhỏ
xíu, xinh xinh, đã đọng vào tuổi thơ miền cát trắng.
Tôi thẫn thờ một mình bên bãi
biển. Một chú kiến lạc bầy, một chú ve cô đơn, tôi chăm chú quan sát và mải
chơi với sinh vật bé bỏng ấy có khi cả buổi liền không biết chán. Tôi tưởng tượng bầy
kiến vàng là một lũ giặc, tôi khiêu khích, tấn công nó xem kiến phản ứng như thế
nào. Rồi múc nước xổi xả hình thành nên trận lụt khiến bầy kiến vàng chạy tán
loạn. Dưởi lớp cát trắng tinh là nền đất ẩm ướt và cứng. Chúng tôi dùng que thọc sầu xuống, đào thành những
chiếc thuyền, đắp cát hình con sóng. Thuyền sẽ vượt qua những con sóng cát ấy về với đại dương.
Rặng tre trước ngõ và sau vườn
ngày càng um tùm, tươi tốt. Rễ tre bám vào lòng đất, xâm lấn cả khu vườn. Lá
tre rụng xuống thành lớp dày toả mùi hương ngai ngái. Chiếc chõng tre đặt dưới
tán tre, tôi nằm nghe âm
thanh của những cây tre cọ vào nhau kẽo cà kẽo kẹt, nghe gió thổi đồng quê xào
xạc, nhìn trời xanh trong và mây lững thững bay. Khu vườn tràn ngập tiếng ve trầm ngâm, khắc khoải, tiếng
sóng biển rì rầm, tiếng người chuyện trò như tụng kinh giữa trưa hè.
Không gian ấy chuyển màu khi
chiều buông. Bà và o Liên đi chợ chưa về, tôi và em gái ở nhà, căn nhà vắng lặng.
Cơm độn sắn dọn ra, chỉ có bát canh dền, quả cà, hai anh em ngồi đợi bà và o về cùng
ăn. “Em đói bụng thì ăn trước đi!” tôi nói với Tâm, em gái. Nó lắc đầu: “Không!
Em đợi bà và o vê' ăn cho vui, anh ạ!” Mâm cơm nguội ngắt, chỉ có tiếng gió hờ hững giữa khoảng sân vắng
bóng người.
Năm giờ chiếu, mùa đông trời tối nhanh
hơn, khu vườn chuyển sang màu xám và thật buồn bã. Tôi lững thững bước ra sân,
ra ngõ, nhón chân nhìn theo lối xóm sâu hun hút xem có thấy bà và o đâu không.
Chẳng thấy gì cả! Chốc chốc, từ đằng xa có bóng người quảy gánh đi tới, ngỡ là
bà đi chợ về, tôi mừng quýnh lao đến. Nhưng càng lại gần, tôi càng thất vọng.
Người quảy gánh không phải là bà, mà là một người dân thôi pại Bắc đi chợ về.
Sắp tối rồi. Lòng tôi nôn
nao. “Bà và o Liên có về không? Bà và o đang ở đầu?” tôi tự hỏi. Tự nhiên lòng
tôi đầm đìa, hai hàng nước mắt ứa ra.
Con đường nhỏ nhòe đi
trong mưa bụi.
Nóng ruột quá, tôi lẩn thẩn
đi bộ đến cuối xóm, đi qua bãi tha ma, đi xuống phía Song Long, Song Phượng để
đón bà, đón o Liên. Chập choạng tối, tiết tiời se lạnh, tôi co ro rét mướt đi
giữa đường cái, mắt đăm đăm nhìn qua bãi cát hy vọng sẽ nhìn thấy bà thấy o đang quay gánh về nhà. Bốn bế lộng gió, vắng lặng. Bóng
tối loang ra từ núi Đá Bạc, trườn qua sông Rào, bóng tối nhanh chóng bủa vây
con đường khiến ní đặc quánh. Có lẽ bà chưa về? Mai bà và o Liên mới về’” tôi nén tiếng thở dài, khẽ gọi “bà
ơi!”
“Tuổi ấu thơ, mỗi lần mẹ
đi chợ/ Suốt buôi trông được chiếc bánh
đa vừng”. Tôi ít được sống với mẹ. Mẹ tôi đã có gia đình khác với một
người khác, b5 thì khoác áo lính đi biển biệt trong Nam, rồi vèo một phát sang
tận Liên Xô. Anh em tôi được gia đình ông Thọ đưa về nuôi dưỡng một thời gian,
sau đó chúng tô vẻ ở với ông bà nội, o Liên. Khi tôi khát sữa, o Lý bế ôi đi khắp
xóm xin sữa. Bà Oanh ở Đông Tây, mẹ củỉ anh Cặc Ngựa, người đàn bà tốt bụng thường
xuyên do tồi bú nhờ, bú mướn. Vợ chồng bà Oanh sinh nhiều con, chồng già yếu lại mang bệnh, bầy con
nheo nhóc đứa thì lang ben, đứa thì sài ghẻ mọc đầy thân. Có hôm hai vợ chồng bà đè anh Cặc Ngựa xuống làm vệ sinh
cho con, bà lấy chiếc kẹp gắp ra những con giòi lúc nhúc trên đầu quẳng ra sân.
Đàn gà tranh nhau mổ chí chóe.
Với anh em tôi, bà nội cũng
là mẹ. Mỗi lần bà và o Liên đi chợ huyện, đi bán nước mắm ở Thạch Kim (Thạch
Hà) về, thế nào trong thúng cũng có cặp bánh đa, cái bánh chưng, quả chuối nhàu
nhò, quả dưa lê còi cọc như quả trứng.
“Thì cũng hết nỗi chờ,
nỗi đợi/Cơn đói bây giờ không mẹ gọi chiều hôm”. Cơn đói không chỉ
có Giêng Hai, mà đói quanh năm. Nhà tôi có cây khế sau hè, cây khế bằng tuổi
tôi, mùa khế hoa tím rụng đầy cội. Không có thức ăn, ông nội tôi hái khế xuống
thái thành từng lát mỏng, phơi vài nắng rồi trộn với muối đem ủ thành dưa chua,
làm thức ăn hàng ngày. Quả khế nẫu với moi khô, bát canh lõng bõng nưóc vừa
chua vừa ngọt. Mùa mưa bão, ông đi quanh làng xin thân cây đu đủ bị gió quật
ngã về bỏ vỏ, xắt ra từng khúc muối làm dưa, ruột đu đủ trộn với lạc rang giã nhỏ, lá chanh thái chỉ, ông
chế thành món nộm ngon tuyệt hảo. Bữa cơm hàng ngày hầu như lúc nào cũng phải độn
sắn, độn khoai, ăn với canh rau má. Cơm trộn khoai chan nưốc rau má thành thứ
chất sền sệt, bầy hầy.
Có hôm ông bà và o đi vắng, chẳng có gì ăn, tôi và em gái nấu cơm lên ăn với muối.
Đói, ăn gì cũng thấy
ngon!
Quê tôi, những người phụ nữ
luống tuổi gọi lè mụ. Trước nhà bà nội là gia đình mụ Cúc, chồng mất sớm, ba mẹ
con sống trong túp lều rách nát. Mụ Cúc bị tật, chần đi cà nhắc, thỉnh thoảng
vác rá đi xin gạo hàng xóm. Nhiều
bữa tôi ngồi ăn cơm tối, nghe tiếng chó sủa, nhìn ra thấy mụ Cúc quần ống cao ống thấp rưng rá đúng giữa sân, chẳng nói chẳng rằng. Biết là mụ
Cúc đến xin gạo ăn, bà nội tôi lẳng lặng vào buồng xúc biếu mụ vài bơ gạo.
Dáng bà liêu xiêu quảy gánh
hàng nặng trĩu trên vai, hình ảnh ông nội gầy guộc và bóng o Liên côi cút giữa
đường mưa, con đường làng nhoè đi trong cát bự. Ký ức ấy, không hiểu sao, đến tận bây giờ vẫn
để lại trong tôi nhiều
buồn tủi.
Tôi muốn trở lại con đường làng hanh hao nỗi nhớ,
ngồi một mình đón đợi người thân.
5.
Cương Gián có 3 làng, Song Một
ở trung tâm; trong Hai
gồm Song Phượng và Song Nam. Song Phượng có đội tuồng giả cổ, diễn viên chính là người dân trong làng.
Họ là dân làm muỗi, làm ruộng, ngư dân đánh cá. Ngày lầm lũi ngoài đồng bãi hoặc phơi mình trên biển, đêm về thỉnh thoảng họ
dựng rạp diễn tuồng.
Sân chiếu thô sơ dựng
trên bãi đất trống giữa làng, xung quanh là vườn nhà bao bọc. Không bán vé, không giấy mời cửa mở toang
bốn phía ai muốn vào ra thì tùy.
Gánh tuồng Song Phượng
cách trung tầm xã chui ra
đầy 3 cây số. Hễ nghe
loa thông báo có diễn tuồng
ở làng bên là lũ trẻ chúng tôi mừng quýnh, hổi hộp quên cả bữa cơm chiều.
Chập tối, từng đoàn người lũ lượt đi bộ
băng qua cánh đồng, qua
bãi cát hướng về phía Đá Bạc, địa danh trong bài hát Người đi xây hổ Kẻ gỗ: “Kẻ Gỗ là đây bao năm đợi
tháng chờ, đây vùng Đá Bạc đồi núi lô nhô...” Khu vực này có nhiều
đến thiêng, người yếu bóng vía không dám đi một mình mà họ tụ tập thành từng đoàn
vừa đi vừa hát cho đỡ sợ ma.
Tôi lẽo đẽo theo sau o Lý,
chú Nam. Vừa đi vừa chạy, ám ảnh bóng ma ông Thọ nhiểu lần kể cho tôi nghe
trong những đêm trăng mờ sương. Ma cà rồng thè cái lưỡi dài như ngọn lửa; ma
trơi chập chờn; ma lợn thường lẩn quất trên đồng làng đánh lừa người đi chợ; ma dưa hấu xếp thành trăm quả lăn
lông lốc; ma đu mình trên cây; ma nấp trong bụi rậm. Nhiều hôm mưa rào sấm chớp
nhì nhằng, tôi rúc đầu vào nách ông Thọ nằm trên tấm “nệm” lót bằng rơm rùng
mình nghe ông kể chuyện ma. ông bảo, chính mắt ông từng thấy ma gái mặc áo trắng
đứng khóc thút thít dưới gốc cây dừa.
Sợ vãi linh hồn!
Đêm dài lạnh lắm, càng đói
càng lạnh. Nỗi lạnh có khi không đến từ cửa sổ trống trênh gió lùa mà buốt lên
từ bụng. Đói cổn cào ruột gan. Chiếc chăn mỏng dính đêm nằm tôi ngứa tay bứt hết
sợi, mỗi lúc mỗi càng thêm ngắn, o Đào, o Hồng cũng rút nhiểu sợi vải trong chăn vo tròn lại làm bác đèn,
khiến chiếc chăn càng mỏng và ngắn hơn, che được đầu thì hở đằng chân, trùm kín
chân thì hở đằng đầu. Do đó khi ngủ, chúng tôi phải nằm co. Cả nhà không đủ
chăn đắp. Đề sưởi ấm, ông Thọ vào thôn Đại Đồng xin mấy bó rơm về rài dưới chiếu. Nằm trên đống rơm cứ nơm nớp
lo vì bên dưới có bếp than đỏ rực.
Bếp than hồng gợi cho tôi sự ấm áp những ngày đông
rét buốt, khi cả nhà quầy quần bên nhau. Vị khói cay cay của than phi lao lẫn
trong thoang thoảng mùi ngô nướng, lạc rang. Tí tách giọt mưa ngoài hiên giọt
rơi trên lá giọt rơi trên thềm thấm vào gió bấc lạnh lùng đêm đông.
Những hòn than đang rực cháy
đã thổi bùng ký ức, ký ức ấm áp nhưng cũng gợi cho tôi sự hãi hùng mùa mưa năm
cũ. Khoảng năm tuổi, tôi rời nhà bác Thọ về ở với mẹ và em gái. Một chiểu lạnh,
tôi đánh thức em gái dậy
khi thấy xung quanh rực sáng. Gọi mẹ, không có tiếng trả lời. Cánh cửa đóng kín mít, mẹ tôi tranh thủ
lúc hai anh em đang ngủ chạy lên nhà bà ngoại vay gạo thì phải. Trước khi đi, đề phòng con tỉnh giấc và chạy ra ngoài, bà khóa trái cửa lại,
cời bếp than sưởi ấm cho hai con.
Căn nhà nóng ran lên. Tôi lay
em gái dậy. Đủi tem hai tuổi mắt nhắm mắt mở theo anh trườn xuống nhà. Hai anh
em chạy đến cánh cửa nhưng khôrg tài nào mở nổi vì cửa đã khóa chặt. Sợ hãi, và
như linhtímh có điều chẳng lành, tôi lấy chiếc đũa khoét nển đít ẩm ướt, đào một
lỗ hổng rồi kéo em gái chui tọt ra ngoài
sân. Em gái tôi sợ hãi khóc ré lên, tôi nhìn quanh tìm nhưng chẳng thấy mẹ đâu.
Trời không mưa. Gió bấc cuỏn cuộn. Xung quanh khu vườn vắng ngắt chẳng một bóng
người.
Hai anh em đội gió đi tìm mẹ.
Khi chúng tôi vừa rời căn nhà khoảng vài chục mét, bỗng một tiếng nổ lớn vang
lên. Tôi ngoái lại, căn nhà bốc cháy ngùn ngụt. Lửa từ bếp than tỏa sức nóng,
hun khô manh chiếu, lửa bén vào giường khiến nó phát hỏa. Trong chốc lát, ngọn
lửa đã bao trùm căn nhà, lửa rừng rực cháy như một bó đuốc...
*
Tuồng và phim, hai “đặc sản” những năm đói
kém, cơ hàn. Những đêm tuồng diễn tả cảnh sinh hoạt của người dân miền biển, có
khi diễn tích xưa. Tôi thích vai vị tướng già mang gươm đi mở đất có giọng nói
oai hùng. Đôi hia có cái mũi nghếch cao như mũi thuyền, mình đầy gươm đao, áo
xông chỉnh tề, từ cánh gà ông bước từng bước ra oai phong lẫm liệt. Người đóng
vai A Bình Sơn lớn tiếng cười ha hả: “Ta đây là A Bình Sơn, đến cứu bạn A Li
Kha!” “Quân bay đâu?” “Dạ”. Tiếng dạ ran đều.
Bỗng tướng già rơi bịch từ
sân khấu cao gần hai mét xuống bãi đất trống lún phún cỏ gà. Ông lọt vào lỗ thủng
trên sân khẩu, rơi tự do. Đám khán giả tưởng ông diễn thật, lăn ra vỗ bụng cười
khoái chí.
Năm thì mười họa mói có một
đoàn văn công trên tỉnh về
diễn ở xã. Một gánh hát, vài ba chục người, lỉnh kỉnh kéo theo nào ỈỢn nào
gà, con nít. Thi thoảng bảo
tôi lại vinh dự được các o văn công vào tá túc. Thấy các o quần áo lòe loẹt,
son phấn đẩy mình, em gái tôi cứ mê mẩn. Nó đòi đi văn công.
Chú Hải ở xóm Cầu Đá hỏi
nó:
“Tâm, mi có thích đi
văn công không?”
“Cháu thích!” nó hí hửng.
“Vậy thì về nhà lấy nước mắm đổ lên trốc (đầu), kiểu
chi cũng được đi văn công!”, chú Hải bảo.
Tâm tưởng thật, nó về mở chum
lấy chai nước mắm, nhè đầu trút xuống. Toàn thân nó ướt sũng, hôi rình.
Xem chiếu phim mới xôm. Không
có rạp, đoàn chiếu phim lấy đền Thượng ở ngõ Ruồng làm nơi đặt máy chiếu. Đền nằm giữa đường lớn, nhân
viên chiếu bóng chặt tre chấn hai đấu đường, xung quanh là nhà dân nên chỉ cần
rào thêm ít cành tre và bố trí đội quân canh phòng cẩn mật canh đám trai làng lậu
vé. Nếu cho tôi đi theo, o Lý và chú Nam phải bế tôi lên vai suổt buổi chiều bóng, thế thì vất vả quá.
Kéo theo cái rơ-moóc sau lưng lỉnh kỉnh, nên thỉnh thoảng chú và o lại bàn kế lừa
để tôi ở nhà. Bị lừa nhiều phen, tôi tức như bò đá, nhưng chẳng làm gì được. Ở
nhà một mình lúc mọi người rủ nhau đi xem phim hết mới thật buồn tẻ.
Thế nên mỗi lúc làng Cương
Gián có chiếu phim, tôi vội vàng lùa bát cơm rổi bảo chú Nam: “Cháu vô nhà ông
bà nội đây!” Chú Nam tưởng thật, mừng quýnh. Tôi đi thẳng ra ngõ, khuất sau bụi
cây là chạy vòng ra đường cái “thập diện mai phục”. Anh em nhà chú Nam cơm nước
xong, thủng thẳng giắt tăm đi lên ngõ Ruồng. Tôi lẳng lặng bám theo. Đợi đến
lúc chú Nam o Lý mua xong vé tôi bất ngờ xuất hiện, gọi toáng lên: “chú Nam!”
Chẳng có cách gì để đuổi đứa cháu nhỏ về nhà, chú Nam nhăn mặt một thoáng rồi bế
phốc tôi lên, mắng nhẹ: “Cái thằng ni, răng bảo vô nhà bà nội rồi cơ mà!”
Khán giả chật ních. Chen lấn,
xô đẩy, ồn ào. Đám choai choai tranh thủ lúc đông người thò tay bóp vú mấy cô
trẻ tuổi da trắng như trứng gà bóc. Có cô thôn nữ bị sờ soạng, mặt đỏ phừng phừng,
nhưng chẳng hiểu sao vẫn cứ đứng yên. Bãi chiếu phim chật chội, người đông, ai
nấy mổ hôi mồ kê nhễ nhại. Hết thời chiếu bóng ngõ Ruồng đoàn chiếu phim lại
mang về chiếu ở chợ. Chợ
Cương Gián khá rộng, nằm cạnh một dòng sông, cạnh đường liên xã. Nhiều thanh
niên không có tiến mua vé bèn cởi quấn bơi qua sông, lên bờ đả thấy lừng lững một
ông bảo vệ. Chạy! Chạy tán loạn. Có người trèo tường sẩy chân rớt cái bịch, ngất
lịm. Nằm im một lúc sẽ tỉnh lại, lổm cổm bò dậy và thoắt cái đã băng qua đám
cây dại, khuất trong biển người. Lực lượng canh phòng dù đông đến mấy cũng đành
bó tay. Xua đằng đông, ầm ám vỡ trận đằng tây. Có trời mới vãn hồi được trật tự.
Nhiều hôm khán giả chen lấn, xô nhau ngã ràn rạt. Nếu nằm xuống, sẽ bị giẫm chết.
Tôi cổ sức ngoi lên, ngoi lên, bám lấy những cái đầu cao ỉênh khênh. Khi đám
người chật như nêm thì không lo rơi bịch xuống sần gạch nữa.
Phim tan. Đêm tàn. Tôi
lững thững đi về xóm Cầu
Đá. Đường làng vắng lặng, bóng trăng chênh chếch,
nghiêng nghiêng. Tiếng dế kêu khắc khoải lẫn trong tiếng gió miên man, trong tiếng
chó cắn ma ngẫu hứng. Tự bao giờ, lòng tôi thoảng nhẹ những buồn thương, những trống vắng, cô đơn.
Làng vất vả ngày ấy dáng người đi tủi phận. Nửa
Cương Gián nghiêng về phía núi Hổng Lĩnh, nông dân thì làm nông. Nửa làng
nghiêng ra phía biển, ngư dân chài lưới. Một bộ phận nhỏ dân trong làng buôn
thúng bán mẹt hoặc đạp xe đi Vinh chở về trăm thứ bà rằn.
Những người nông dần thôn Đại Đổng làm chủ ruộng
lúa, nương khoai bên kia sông, gẩn chân núi Hồng Lĩnh. Được tắm mát nước sông
đào, lúa khoai nơi đây bốn mùa xanh tốt. Những người đối mạt với biển cả thì mới
cơ cực. Ngày nắng cũng như mua, hè chói chang hay mùa đông lạnh giá và kể cả
khi đát trời tối tăm biển động sóng dữ, người dân Cương Gián vẫn dong thuyền ra khơi đánh vật với biển.
Có người túng bấn, bỏ quê hương bản quán đi vùng kinh tế mới ở Tây Nguyên, lên Quỳ Hợp, Tân Kỳ, Nghĩa Đàn (Nghé An)
khai khẩn đất hoang sinh cơ lập nghiệp.
6.
Khi đã nhận thức được hạnh
phúc và bát hạn, tôi nghĩ về
những phận người ở bên tôi. Họ bình dị gần gũi, những gia đình như kết lại thành một. Cả ngày xưa, đến
cả bây giờ.
Ông nội tôi và ông Thọ
là hai anh em ruột, giống nhau từ lời ăn tiếng nói. Ông nội là anh cả, sinh ra
bố và o Liên. Ông Thọ có nhiều người con: chú Thọ, o Hồng, o Đào, chú Tửu, chú
Nam, o Lý. Càng đông con, càng nhiều nhân khẩu, thì cuộc sống càng khổ.
Ông Thọ và các con trai làm
nghề đánh cá. Ông là vị thuyền
trưởng thuyền lưới mười có tiếng một thời ở Cương Gián. Thuyền công suất lớn,
quân đông, đánh đâu thắng đấy. Nhưng nghê biển chẳng mấy ai giàu. Hôm nay có thể
cá đầy khoang, ngày mai có thể kéo cờ trắng báo con số không tròn trĩnh. Quanh
đi quẩn lại, nghèo vẫn hoàn nghèo. Vẫn những tiếng thở dài sông nước, vẫn mặn
chát vị muối trên lưng. Vẫn bạc trắng những mái tóc dãi dầu mưa nắng và vẫn
làng nghèo đìu hiu cơn gió nồm nam hun hút bốn mùa.
Buổi sáng, ông Thọ dậy thật sớm
pha ấm chè xanh thật đặc ngồi nhâm nhi cả giờ đồng hổ. Chẳng hiểu ông đang nghĩ
gì, đôi mắt răn reo bâng khuâng nhìn ra khoảng sân đầy nắng và lá vàng lao xao.
Vừa uống chè xanh vừa trầm ngâm nhai trầu. Lá trầu xuyên thế kỷ. Màu trắng của
vôi, màu xanh của lá, màu nâu của thuốc lào mấy sợi loăn quản, màu cau xám trắng,
nhuyễn thành một màu đỏ tươi. Ông thường điểm tâm sáng bằng miếng trầu, bát nước chè đặc
quánh. Sáng nào cũng vậy, khi ấm nước đã cạn, ông thong thả chắp tay sau đít đi
ra biển nhìn trời nhìn mây để quyết định xem ngày hôm đó có dong thuyên ra khơi
hay không.
Mùa cá trích mới xôm. Tối đến, tầm 9 giờ đêm, thuyền nan đua nhau tấp
vào bờ và trên những conthuyền cơ man nào là cá. Cá mắc vào mắt lưới. Cá chất đầy
trong khoang. Những thúng cá to bự dản chài khệ nệ khiêng vào bãi cát, vảy cá lấp
lánh, sáng lên dưới ánh trăng mờ. Đống lưới nằm trên thuyền cũng được đưa xuống,
mắt lưới dính đầy cá tươi. Chúng tôi đứng thành vòng tròn để “khở” (gỡ) cá, có
khi chỉ cần đưa tay giũ lưới một phát, cá đã rơi trắng đầy trên mặt đất nhá
nhem.
Quảy gánh cá trích về
nhà giữa đêm, o Hồng, o Đào nhóm lò than, nướng cá. Bếp than đỏ rực, tiếng vảy
cá cháy xèo xèo, thơm lừng. Tôi ngồi bên o Đào thích thú ngửi mùi cá nướng. Con
nào chín quá, o dùng đũa gắp ra đề riêng một góc ở chiếc nống bằng tre đan “cho
thằng cu ăn”. Tỉ mẩn bóc lớp vảy để lộ lớp thịt trắng phau, tôi chậm rãi chấm từng
lát cá nướng vào đĩa muối, chậm rãi cho vào mồm nhai.
Vị mặn của muối, vị ngọt
của cá tươi quyện với mùi thơm bốc lên từ lò nướng và tiếng mỡ cá cháy xèo xèo
bên tai, kỷ niệm ấy cứ tha thiết, cồn cào, cả trong giấc ngủ.
Gia đình ông Thọ rời
xóm Đông Tây, chuyển nhà xuống xóm Cầu Đá, nhường nền đát cũ xây nhà thở chi họ
Trần ở Cương Gián. Nhà thờ chính đặt tại Xuân Liên, xã kế bên. Ngày giỗ Tổ, hai
ông cháu dắt nhau đi bộ ven biển lên xã Xuân Liên hương khói cho các cụ. Lúc đi
thấy phía Tây trời chuyển màu, ông bảo:
“Sợ tối ni có giông lốc!”
“Răng ông biết được ạ?”
tôi tò mò hỏi.
“Hễ khi mô có đám mây
màu đen hình bàn tay giơ lên, trùm cả núi Mào Gà ở xã Cổ Đạm, y như rằng tối đó
có gió mạnh! Mà thôi, mi nỏ hiểu được mô, đi mau!” ông kéo tay tôi bước nhanh về
xã Xuân Liên.
Nửa đêm, trống chiêng inh ỏi,
lúc ông thầy cúng lên đồng
múa may quay cuồng, là lúc giông lốc ập đến. Bên ngoài thì mưa gió ầm ầm, bên
trong hương khói lập lòe, bóng người nhập hôn nhảy nhót như ma, miệng nói lảm
nhảm, tay chấn vung vẩy, làm tôi sợ vãi đái ra quần.
Sợ ma, tôi rúc đầu vào
bụng ông, ngủ thiếp đi.
Sáng tỉnh dậy, hai ông cháu lại
lò dò cuốc bộ về làng
Cương Gián. Dọc bờ biển, những chiếc thuyền bị gió thổi lăn lông lốc từ bãi cát
ra mặt nước, có cái bị ném lên không trung, gió bẻ làm đôi. Cây cối, nhà cửa
trong làng gãy đổ la liệt. Nhiều chiếc thuyền đánh cá bị sóng đánh đắm, mất
tích. Chiều qua, ông Thọ đã dự báo đúng về trận giông lốc sẽ ập vào làng chài.
Các chú, các o chưa lập gia
đình, tôi trở thành “cục cưng” trong nhà ông Thọ, bà Thọ. Đi biển, ông đưa cháu
đi theo. Ra bãi phi lao hóng mát, thế nào ông cũng “ngoắc” tôi đi cùng. Ông
cháu như hình với bóng. Mười hai, mười ba tuổi, ông Thọ ném uỵch tôi lên chiếc
thuyền nan, cầm chèo giong thuyền đưa cháu đi đánh cá. Ông chèo, tôi thả lưói.
Thỉnh thoảng chì ngoắc vào phao thành một đống bầy hẩy không bứt ra được, ông
điên tiết, mắng: “Cái thằng cứt ni! Nỏ mần được cứt chi!”. Tính ông nóng như lửa.
Khi nóng thì không nhịn được.
Lớ ngớ, ông bạt tai cho bây giờ.
Hai ông cháu đang thu
lưới thì trời nổi gió. Từng đợt sóng cao ngất, to đùng như những cái tát vả tới
tấp vào mạn thuyền. “Chết cha rồi!” ông nói, đoạn thoăn thoắt tay chèo. “Răng rứa
ông”, tôi hỏi. “Tố đến!” “Vô bờ thôi ông hè?”, “ừ, vô mau!” Hai ông cháu quay
mũi thuyền. Nhìn những con sóng hung dữ, tôi thấy sợ!
“Cháu ngồi cho vững nhé!” ông
bảo, lúc thuyền đã ghé
sát những con sóng cao ngất.
“Dạ!” tiếng tôi lạc
trong gió.
Mưa trút xuống thật không
đúng lúc, nó ôm tôi thấy
lạnh và bốn phía đen kịt, khó nhận ra những cột sóng ầm ầm lao đến từ sau lưng.
Tôi vuốt đám nưÌCbắn tung tóe lên mặt, ngước nhìn ông. Dáng
ông lừng lững dang hai chân trụ trên sạp thuyền, gắng sức cho. Ba, bốn đợt sóng
xô tới, thuyền tròng
trành, nước tren vào
khoang. Tôi lấy gàu tát lấy tát để.
Chú Nam, chú Tửu chạy
ra bờ biển tìm hai ông
cháu.
“Chậm một tý nữa là chết!”,
ông nói, khi thuyền đã
no nước và cập bờ.
Tôi nhảy xuống, giúp ông đẩy
thuyền. Các chú chạy tới.
Giọng chú Nam vỡ òa trong tiếng sóng ầm à:
“Răng Bọ để cháu như ri,
không kiếm cho hắn cái
phao, lỡ thuyền chìm thì răng?”
“Ờ, Tau quên!”
Những đêm tối trời nóng nực,
tôi nằm bên trong và bắt
ông phải quạt liên hổi để tôi ngủ. Quạt nhiều mỏi tay, vả lại đêm khuya buồn ngủ ríu mắt, ôngthiêm thiếp,
buông tay thả quạt rơi cái độp. Nóng quá, lứa ông ngủ được, tôi thò tay vào nách ông chọc léc mấy cái, léo nhéo: “ông ơi, quạt
đi!”. Nhột, ông bừng tỉnh, đưa tay vả tôi cái đốp. “Thằng cha mi! Tau hơi sức
mô mà quạt cả đêm, hử!”
Mắng xong, ông lại cẩm quạt
phe phẩy, miệng ru: “Cái
cò cái vạc cái nông, sao mày giẫm lúa nhà ông hỡi cò”. Ông hát được
vài câu, tôi chưa kịp ngủ, ông đã ngáy pho pho.
Tuần vài buổi, ông cõng tôi
lên xóm Đông Tây “đi nhởi”, thăm bà con. Đêm ba mươi trời tối như bưng, không
ánh đèn, ông vẫn phăm phăm bước đi.
“Răng ông tài rứa ông? Trời tối
thui, nỏ chộ chi cả, ông vẫn đi được!”
“Đơn giản! Ông bày cho nhé,
đi giữa trời tối đừng nhìn dưới đất tìm đường, nỏ chộ chi mô! Phải ngước mắt
nhìn lên trời, đêm thì tối nhưng trên trời lại sáng, có khoảng sáng giữa hai
hàng cầy dọc đường cứ rứa mà đi!”, ông bảo.
Nhiều hôm thèm ăn quả trứng
gà (quả đào tiên) của o Đào mua từ Hương Sơn vể bán, tôi lẻn vào buông hốt một
đống, để dành ản lai rai. Thấy thúng trái cây cứ vơi đi, biết đích thị là thằng
cháu ăn vụng. Ông hỏi:
“Mi có lấy quả trứng gà của o ăn không rứa?” “Cháu nỏ lấy, một quả
cũng nỏ lấy!”
Ông cười tủm tỉm không nói gì
thêm. Bẵng đi mẫy ngày, ông đột ngột bảo:
“Cu ạ! Ông định ra vườn trổng mấy cầy trứng gà,
nhưng nỏ kiếm mô ra hột. Mi có không cho ông ít?” “Có! Cháu có cả đống luôn!”,
tôi đáp, lăng xăng chạy ra sau hè đào lên một mớ hột trứng gà đưa cho ông Thọ.
“Hột mô ra nhiều rứa
cháu?” ông chất vấn.
“Cháu... nhặt được đấy
ông ạ!” tôi chống chế.
“Nhặt được cả đống luôn, hầy!”
ông Thọ ôm bụng cười.
Các chú, các o thấy vậy, xúm
đen xúm đỏ quanh tôi, “lêu lêu, xấu hổ nhé!” Tôi cười nhăn nhở, chạy tọt ra đường cái lặn một hơi
không sủi tăm.
Chiều về, tôi hờn dỗi lấy gáo phá thùng nước,
múc nước tưới loạn xạ. o Lý thấy thế quất ầm lên:
“Cu! Răng đổ hết nước
rứa cu!”
Tôi buông thõng một
câu:
“Mẹ!”
Rồi cắm cúi chạy vào nhà bà Nội.
Nhưng chua đầy một khắc, tôi đã mò về nhà ông Thọ. Xóm đã lên đèn. Bữa cơm chiều dọn ra, tôi giận dỗi
không thèm ăn cơm, trèo lên giường đắp chăn giả vờ ngủ.
“Cu, xuống mà ăn cơm!”
chú Nam hắng giọng.
“Nỏ ăn!” tôi nói.
“Xuống ăn không hết
cơm, lại kêu đói!” o Lý tảo.
“Không ăn là không ăn!” tôi vẫn
trùm kín chăn, thủng thẳng đáp.
Tiếng bát đũa va vào nhau
lách cách, tiếng húp canh soàn soạt.
“Nó không ăn thì thôi,
cho nó nhịn!”, o Hồng nói.
Tôi vẫn nằm im thin thít.
Đói! Chốc chốc tôi ki thò đầu ra ngoài xem mọi người đã ăn đến đâu rồi, dỏng tai nghe xem có ai mời tôi ăn nữa
không. Chú Nam nhìn lên. Thoáng thấy chú, tôi lại chui đầu trùm kín chăn ra vẻ
ta đây không thèm để ý.
“Xuống ăn đi Cu!” bà
Thọ bảo.
Đói cồn cào gan ruột. Không
thể nhịn được nữa, tôi bèn nhảy tót xuống, sà vào mâm cơm, chậc lưỡi:
“Ăn thì ăn!”
*
Chú Thọ từ biển trở về toàn thân ướt sũng. Mỗi
lúc biển động chú lại mang áo tơi, vác “xiếc” (dụng cụ đánh bắt sò huyết của
ngư dân Cương Gián) xông ra giữa trùng trùng lớp lớp sóng dữ, đầy xiếc, tìm sò.
Người chú thấp, sau mỗi đợt sóng đỏ ngầu là chúng tôi đứng trên bờ thót tim vì
chẳng thấy bóng dáng chú Thọ đầu nữa. Thoắt ẩn thoắt hiện giữa trùng vấy bão tố,
chú Thọ như con rái cá ngụp lặn, đùa giỡn với cuồng phong.
Sò huyết mang về mấy gánh, đổ
đầy sân. Các o, các chú quây quần bên đống sò, nhặt rác rưởi vứt đi. Tiếng vỏ
sò cà vào nhau lạo xạo, o Hồng hốt sò cho vào chiếc nồi lớn, nhóm lửa, chừng vài chục phút
sau sò chín. Ruột sò huyết nhặt ra đem nấu cháo, làm bánh cuốn, hoặc dầm nước mắm
dùng trong bữa ăn hàng ngày. Cuối mùa, cha con ông Thọ quang gánh ra biển gom vỏ
sò về tấp thành đống, vỏ sò trộn với than đá cho vào lò, nung nửa ngày thì
thành vôi. Xi mảng khan hiếm, cư dân Cương Gián dùng vôi để xây nhà, vỏ sò đổt
lên cũng thành một thứ vôi sến sệt.
Những ngày mưa, biển động,
bãi ngang ven biển buồn ảm đảm. Làng mạc đìu hiu trong cơn mưa trắng trời, trắng
đất. Dọc bờ biển thuyền được kéo vào sâu trong dất liền, bờ biển phủ đầy bèo,
cành cây. Cứ sau mỗi đêm biển động, sáng ra ông Thọ đánh thức tôi dậy rất sớm,
hai ông cháu dắt nhau đi dọc bờ biển tìm chai lọ, bóng đèn, phao lưới dạt vào
bãi cát.
“Mau đi, cu!”
Ông ngoái lại giục, khi tôi
không theo kịp. Năm giờ sáng, trời tối om, tiếng sóng gầm gào dọa dẫm, tôi lon
ton chạy theo ánh đèn pin trong tay ông, đi qua bãi tha ma cuối làng tự dưng rợn
tóc gáy vì sợ
ma. Bãi đất trống ở Cửa Bàu là nơi chôn cất những thi thể ngư dân chết vì đắm
thuyền. Có hôm cả làng kéo nhau đi xem người chết trôi dạt vô Cửa Bàu, tôi cũng
bấm bụng đi theo nhưng chỉ dám đứng đằng xa. Cách trăm mét nhìn tới, mờ mờ một
xác chết trương phểnh, mùi xú uế váng vất. Ngửi mùi xác chết, về nhà không bưng
nổi bát cơm. Cái mùi tanh nồng cứ ám ảnh, lẩn quất đâu đày.
Lon ton chạy theo ông, chốc chốc tôi ngoái cổ lại
phía sau xem có ma không. Ma trơi lập lòe, ma dưa hấu lăn lông lốc, ma chết đuổi
hình như đang lảng vảng dọc bờ biển, gió lạnh thổi ù ù giữa bãi vắng khiến tôi
rùng mình. Ông Thọ mang theo chiếc túi lớn bằng lưới, nhặt được thứ gì ông tống
cả vào túi, vê nhà mới phần ra từng loại. Xốp, để làm phao đánh cá; Bóng đèn
cháy người ta vất đi, hai ông cháu đem về buộc vào dây cước, treo lủng lẳng khắp
nhà để “trang trí”; Mảnh áo mưa, tấm ni lông có thể cắt ra, chế biến thành áo
tơi. Có hôm tìm thấy trên bãi cát cái ống tròn tròn, dài gần bằng gang tay,
nghĩ là mìn, ban đầu tôi không dám đụng vào. Lấy que khếu nhẹ dựng cái ống lên,
thấy một lỗ thủng trên nắp, tôi cầm lên ngắm nghía và bắt đầu suy diễn, nhưng
bó tay vì chẳng biết đó là vật gì. Tôi mang cái “vật bí hiếm” vẽ, cẩn thận bảo
quản trong một góc nhà. Sau này có dịp ra tỉnh, mới hay đó là cái vỏ lon Coca
Cola!
Biển là nơi nhộn nhịp nhất của
làng, mọi hoạt động dường như chỉ sôi nổi vê sáng hoặc chiểu tà. Trưa đứng
bóng, khung cảnh buổn hiu. Hợp tác xã đánh bắt hải sản huy động thuyền viên
mang lưói ra phơi, phơi xong lại vá. Có người vừa vá lưới vừa ngủ gật. Những
người phụ nữ rỗi việc tranh thủ tụm năm tụm ba trò chuyện từ sáng đến trưa. Cứ
hai bà trở lên, bãi biển đã ổn ào. Hết chuyện, các bà xoã tóc bắt chấy cho
nhau. Bắt được con nào, cho vào mồm cắn cái độp. Trứng chấy, cắn càng kêu.
“Lại đây, cu!”
o Đào thường gọi tôi là cu.
Tôi sà vào lòng o. Ngón tay chai sạn rẽ những đường dễ chịu trên đầu. Dưới trận
gió nồm hiu hiu mát rượi, tôi ngủ thiếp đi lúc nào chẳng hay. Ngủ và chẳng mộng
mơ gì cả. Giấc ngủ trong veo.
Trong 6 anh em, o Đào lận đận
nhất. Lấy chồng. Chia
tay. Lại lấy chồng. Càng đi sâu vào con đường tình duyên, o tôi càng khổ. Đôi mắt
o tôi buồn, như đẫm lệ. Có lẽ nhiều đêm trường bên gối chăn đơn chiếc o đã
khóc.
Thời con gái, o đi Hương Sơn,
Hương Khè (Hà Tĩnh) mua hoa quả về bán ở chợ Cương Gián. Chẳng nhớ nổi những chuyến xe, nhưng đến
tận bây giờ tôi vẫn hình dung rõ dáng o ngổi bên thúng hoa quả nơi chợ quê
thanh đạm. Nào cam, nào chuối, mơ, mận, dâu gia...giữa thì con gái, o tôi lấy
chồng và từ đó obước
vào một cuộc đời dâu bể. Tháng ngày đẹp nhất hạnh phúc nhất có lẽ là khi o còn
trong mái ấm gia đình mình, khi tình riêng chưa vận vào ai.
Người chị, o Hổng, dáng nhỏ
nhắn. Em lấy chồng, chị
vẫn ở vậy. Cho đến bảy giờ o Hồng vẫn ở vậy Chú Thọ, chú Tửu, o Lý, đều đã lập
gia đình, riêng chú Nam năm nay đã năm mươi hai tuổi vẫn bình chân nhi vại. Hầu
như đêm nào cũng vậy, sau bữa ăn tối là chú Nam giắt tăm rảo cẳng đi chơi. Có
hôm đi cưa gái cho vui. Có hôm chú đi đánh cờ tướng với mấy người bạn,hoặc làm
vài ván phỏm ù dăm ba nghìn cho qua đi ngày rộng tháng dài. Hình như chú đi cưa
cho có phong tràc, cho vui với bạn bè chứ chẳng màng gì chuyện vợ con. Người ta
chỉ cho chú đám này đám nọ, giới thiệu cho chú cô này cô kia ở làng trên xóm dưới.
Nhưng nghe xong, chú khịt mũi, lắc đầu. Toàn cô xinh xắn đip đẽ nết na cả đấy,
nhưng chú Nam vẫn khịt mũi lắc đầu.
Chẳng biết chú xem đàn bà là cái giống gì mà chứ lạạnh nhạt đến vậy. Chú tôi dị
ứng với đàn bà.
Buồn tình và ngẫu húng, chú
làm thơ, đọc sách Chú đọc cũng nhiều. Ngày tôi chục tuổi đầu, chú bảo tí đọc “Nguyễn
Trãi đánh giặc, giữ nước”; “Mùa lá rụng rong vườn”; “Ruồi trâu”. Tôi bé tý, làm sao tôi hiểu được,
nhớ hết được những nhân vật, sự kiện trong sách vở. Đọc những cuốn sách dày cả
trăm trang rồi chẳng đọng lại gì trong óc, ngoài vài cái tên. Tên ta thì nhớ
tên Tây thì không. Tủ sách của chú rất lạ. Không có giá sách, không xếp ngăn nắp
như thư viện, mua được quyển nào, đọc xong chú bỏ vào trong chum sành. “Như thế
tránh được mối mọt. Mối mọt không đục thủng được chum sành”, chú Nam lý sự. Năm
này qua tháng khác, sách đầy mấy chum. Bao nhiêu thơ làm được chú cũng cho vào
chum, chú bảo quản thơ như dân miền biển bảo quản mực khô, cá khô.
Gia đình ông Thọ làm thêm nghề
trồng trọt. Ngoài sào đất
xã chia ở đồng bãi, các con của ông khai hoang thêm thửa đất trổng lạc. Nhưng
tính chú Nam lạ lắm, luôn làm những chuyện khác người: cả làng trồng lạc chính
vụ, chú tôi gieo trái vụ. “Sao lại phải làm giống như những người khác, phải đổi
mới đi chứ, để xem năng suất lạc trái vụ thế nào”, chú Nam nói. Năm đầu mất trắng,
thân cây cao lổng ngồng, nhổ lên toàn rễ là rễ. Mất toi mẫy cân lạc giống. Mùa
sau, chú Nam vẫn bám đông vẫn làm lạc trái vụ. Nhờ chăm sóc tốt và rút kinh
nghiệm vụ trước, năm đó thắng lợi, lạc chất đầy nhà phơi đầy sân. Làng xóm thấy
lạc trái vụ vẫn cho năng suất cao nhiều người rủ nhau làm theo cách của chú
Nam. Vì thế, một bãi đồng
làng luôn xanh tươi. Khoai, lạc gối vụ, luân phiên.
Củ lạc phơi khô, cất
vào chum. Thân lạc giã nát làm thức ăn chăn nuôi. Những trưa hè, tiếng cối giã
đều đều nghe thật buồn,
ngái ngủ. Cối là tảng đá trắng to đùng mang từ núi Hồng Lĩnh về, tỉ mẫn đục
thành hình phễu, chày đẽo bằng thần phi lao. Một người giẫm chày một người ngồi
bên cối liên tục đưa tay đảo cây lạc khô. Khi cây đã thành thứ bột tơi mịn thì
vớt ra thúng nấu thay cám chăn nuôi. Cây lạc chẳng bỏ phí thứ gì, từ thân, rễ, củ.
Gia đình ông nội neo người
hơn. Bố tôi đi xa. o
Liên lấy chồng
ở quê, rồi chia tay, rồi o đi bước nữa. Người chồng thứ hai mất vì tai biến mạch
máu não, o ôm bé Thủy trở về
với cha mẹ. Gánh nước mắm,
chiếc đòn gánh trĩu nặng, bàn chân trần chai sạn của o tôi đã bôn ba khắp mọi nẻo
đường từ Thạch Nhọn
(Thạch Kim, Thạch Hà, Hà Tĩnh) ra tận Cửa Hội, vào chợ huyện, lên Vinh và xa nữa
là Nam Đàn (Nghệ An).
Bà và o quảy gánh chạy bộ.
Làng trên xóm dưới, làng nối tiếp làng, ngày nắng cũng như ngày mưa chẳng mấy
khi bà và o Liên được nghỉ. Những đôi dép cứ thay nhau mòn vẹt, lưng bà còng xuống.
Mùa tôm cá, ông nội ra biển mua hàng tạ ruốc tươi về chế biến thành mắm tôm. Mắm
tôm ủ trong chum chín dần, người lạ ngửi thấy mùi hôi nhưng tôi quen rồi lại thấy
chum mắm tôm dậy mùi thơm. Đợi đến giáp tết ông bà mới mở nắp chum sành để chế
biến nốt công đoạn cuối cùng, pha thêm nước sôi, đánh cho mắm tôm tơi ra, bỏ
vào thùng để bà và o quảy gánh đi bán. Nhà nào không có tiền, bà đổi mắm tôm bằng
khoai, gạo. Sau mỗi phiên chợ, trên gánh hàng của bà kĩu kịt những gạo khoai,
thêm mấy gói bánh đúc, cặp bánh đa vừng. Sau này lớn lên, tôi làm thơ tặng o
Liên: “O Liên ở quê ra/ Thèm bát canh cá đồng nấu khế/ Năm ngoái mất mùa cơm cao
gạo kém/ Mỗi suất bình dân giá mấy chục nghìn/ Cơm bình dân khách ăn bình dân/
Gạo Khang Dân chan nước rau muông luộc/ o tôi dặn đừng đổ thừa kẻo phí/ Thương
ông bà gánh hạt thóc còng lưng/ Đất bãi đồng làng nứt dọc nẻ ngang/ Chang
chang mùa đại hạn/ Nắng xối chan chan lúa không đứng được/Nên quê mình chủ yếu
ngô khoai...”
Bố tôi nghiên cứu sinh ở Liên Xô về nước,
vào Nha Trang giảng dạy tại Khoa Kỹ thuật, chỗ ở nằm trong sân bay gần thành phố
Nha Trang. Một hôm ông tôi nói: “Tau vô thăm chắt Huy!” “Bố đã về thăm nhà tết
năm ngoái, ông đi mần chi cho cực?” “Thì ở nhà lâu cũng chán, đi cho khoẻ cái cẳng!”
“Tiên đâu để ông đi
tàu xe ?”, tôi hỏi ông nội.
Ông nội cười tủm tỉm:
“Đi bộ!”
Rồi ông lẳng lặng gói ghém đổ
đạc chuẩn bị hành phương Nam. Từ Hà Tĩnh vào Nha Trang trăm nghìn cây số xa
xôi, ông nội tôi đi bộ biết bao giờ mới tới nơi?
Rời Cương Gián, ông cuốc bộ
lên Gia Lách (Nghi Xuân) giáp Vĩnh, quành qua Bãi Vọt vào Can Lộc, Thạch Hà, Cẩm
Xuyên, Kỳ Anh (Hà Tĩnh). Có bữa tôi tò mò hỏi ông:
“Ông ơi, răng lại gọi
là Bãi Vọt?”
“Ông không rõ. Nhưng nghe nói
bãi đất trống ấy năm xưa nhiều kẻ cướp, người dân đi qua đó phải bà chằn bốn cẳng vọt cho nhanh
kẻo gặp lục lâm thảo khấu!” ông nội giải thích.
Một mình ông lui cui đi dọc
Quốc lộ 1, lần lần vào Quảng Bình, Quảng Trị. Mỏi chân, gặp xe khách, ông vẫy
tay:
“Cho bọ đi Nha Trang!”
“Bọ có tiền không mà
đòi đi ô tô?” lơ xe vặn hỏi.
Ông gật đầu:
“Có chớ! Bọ có tiền!”
Xe chuyển bánh. Đi đường xa mệt
nên vừa đặt lưng lên ghế là ông ngủ ngay. Xe chạy được một quãng dài lơ xe lại
hỏi: “Bọ ơi, cho con xin tiền”. Ông giật mình choàng tỉnh. “Mới đi được một đoạn, chưa chi chú đã đòi tiền. Đi đoạn nữa rồi bọ
trả, lo chi”. Xe vẫn chạy.
Vài giờ đồng hồ sau lơ
xe lại giục:
“Bọ cho xin tiền”.
Đến lúc này, ông mới
khẩn khoản:
“Nói thật với chú, bọ hết tiền
rồi. Chú cho bọ đi nhờ
vô Nha Trang, chứ đi bộ đường quá xa, sức bọ không đi được. Chú thương bọ với!”
Lơ xe xẵng:
“Biết ngay mà! Thôi, thôi, Bọ
xuống đi bộ cho tụi con nhờ”.
Đoạn xua tay lia lịa.
Ông nội tôi ôm chặt khăn gói
quả mướp, lò dò còng lưng bước xuống.
Lại cuốc bộ.
Trên đường thiên lý, thỉnh
thoảng ông gặp những người
tốt bụng cho đi nhờ xe. Biết ông già cả, đói nghèo, chẳng ai đòi tiền. Túc tắc
mấy hôm, cuối cùng ông cũng tới được đất Nha Trang để gặp con trai.
Bây giờ thì ông đã yên nghỉ
nơi suối vàng. Chẳng đau yếu chi cả. Tám mươi ba tuổi đời, ông thanh thản nhắm
mắt ra đi. Ông Thọ cũng đã ra đi. Chú Thọ, người con trai đầu lòng cũng đã ra
đi vì căn bệnh hiểm nghèo.
Chắc ngoài cõi trần gian, những
người yêu thương đã gặp nhau. Tôi thấy hai ông khề khà bên chén rượu, anh em
tâm giao ngổi ôn lại chuyện đời.
Vẫn còn đó, hình ảnh của chiểu
mưa Cương Gián. Ngón tay gầy lần giở lại những trang sách chữ Hán, ông thì thầm
đọc và giảng nghĩa cho chúng tôi nghe.
Những giây phút ngọt ngào
thánh thiện mà bậc tiền nhân đã truyền vào trẻ thơ cảm xúc yêu thương, lòng tin
ở cuộc đời, ở con người.
Tôi nhìn lên đỉnh núi Hồng cao vợi. Dáng núi vững chãi, dáng
núi hình cánh chim đang bay lên.
Thiếu gạo ăn đã đành, cả làng
thiếu luôn cả củi đốt. Để giúp bà và o, anh em tôi thường gồng gánh xuống bãi
phi lao ở thôn Nam Mới kiếm lá khô về đun. Đi bộ hơn một cây số, qua ngõ xóm,
qua đường cái quan, tôi và Tâm rẽ
vào bãi phi lao gần khu vực đầm lầy. Đây là khu vực trồng nhiều cây cối, do các cụ phụ lão
trong làng khai khẩn nên, gọi là “bãi phi lao các cố”.
Hai anh em, mỗi người mang
theo một cái bèn cào, lúi húi khoanh vùng những chổ có nhiêu lá phi lao khô rụng xuống. Cái vòng
tròn lớn khép dẩn, những chiếc
lá tụ về một góc, chúng tôi hì hục từ sáng đến trưa, đi từ bãi cát này đến bãi
khác, thì được một gánh đầy lá khô.
Vào đêm có gió to, biết lá
phi lao sẽ rụng nhiều,
sáng mai tôi gọi em gái dậy thật sớm. Trời còn tối mịt, hai anh em chạy hồng hộc
tới bãi phi lao thì ở đó đã có người đến trước. Người ta đã dùng cào đánh dấu
“vùng cấm địa”, khoanh tròn đám đất đã thuộc vể họ. Hết chỗ, chúng tôi lại dắt
nhau xuống tận Song Long, Song Phượng nhặt lá. Trời âm u, mưa phùn rả rích, em gái tôi vừa
cào vừa run. Nhìn tấm thân gầy guộc của ló rét mướt trong đêm tối, tôi thấy xót
xa.
Khu vườn của ông nội tôi khá
rộng, trước khoảng sân
nhỏ là hàng râm bụt, dưới gốc cầy râm bụt ông trồng hai hàng cây hoa màu phớt hồng, chạy từ míp sân đến cổng nhà. Mùa hoa nở,
ngang tầm tay hoa râm bụt đỏ au, dưới đất hoa phớt hồng chạy một đường dà. Chỗ giếng nước,
ông bắc một chiếc giàn, hoa râm bit ông trồng vượt quá đầu người, theo giàn
vươn lêi, hóa thành một chiếc lọng che mát giếng ăn, ngăn lá t;e khô rụng vào
giếng. Cạnh giếng là cầy ổi quanh năm úc lỉu quả, xa chút nữa là vườn rau, bà nội
trồng toàn rai bầu. Rau bầu nấu với nghêu biển, thành món canh tuyệt hảo.
Chạy ngang mép sần gạch trước
nhà ông có tai cây
ổi cao lênh khênh. Mùa ổi chín, đứng từ dưới đất
nhìn lên, hàng vạn quả ổi chín trắng, lấp lánh như dát bạc. Chiều chiều, tôi trèo lên cây ổi, rung vài
phát, phía dưới nghe rào rào. Đứa em gái chạy tới, nhặt từng quả ổi cho vào rổ
để bà nội mang ra chợ bán. Thúng ổi đầy ụ, mỗi ngày bà nội ra chợ bán được dăm
ba ngàn đồng, cũng đong được
vài cân gạo.
Rượu là mặt hàng tương đối xa
xỉ, rượu chỉ thừa mứa vào những ngày giỗ chạp, ba ngày tết. Ngày thường, ông nội
tôi thiếu rượu để uống. Mỗi lần trong túi rủng rỉnh tiền, ông nội mua vài chai
rượu về dự trữ. Rượu mua
về ông không dám đựng
vào can, hoặc chai lớn, mà san đều
ra nhiều cút nhỏ nút lá chuối “cho có vẻ nhiều”. Xong đâu đấy, ông mở rương giẫu
kỹ vào một góc, cẩn thận như giữ vàng.
Sức ông yếu, chẳng uống được
nhiều, mà hơn nữa cũng chẳng có nhiều rượu để uống. Quanh quẩn ở nhà, đi vào một
ngụm, đi ra một ngụm. Mỗi lần
mở nắp lá chuối, tay trái ông giữ chặt cổ chai, tay phải ông vuốt ve, xoa xoa đằng
đít rồi rất trịnh trọng, ông đưa chai rượu nhỏ lên quá đầu, nắn nót quan sát
xem rượu đã cạn đến đâu rồi. Nâng lên, đặt xuống, đắn đo, nghĩ ngợi, ngồi thẫn
thờ một lúc, ông cẩn thận rót rượu ra chiếc ly hạt mít rồi chậm răi đưa lên miệng.
Sau mỗi ngụm, ông nhắm mắt tận hương vị men nồng, khà lên một tiếng khoan
khoái!
Có hôm o Liên vừa đi chợ về, vừa đặt đòn triêng
xuống, o đã cười ngặt nghẽo:
“Ối! Ối! Bay ơi ra mà
coi, ông Huy say rồi!”
Ông nội tôi là Trần Toán.
Tránh phạm húy, người làng gọi trệch là ông Huy, tên con trai đầu của ông.
Nghe o Liên gọi, tôi vùng ra
sân. Ông nội say tợn, đứng không vững, người cứ đung đưa từ bên này qua bên
kia. Sau lưng ông giắt quyển sách chữ Nho, chắc là đi làm lễ cho nhà ai về, ông
uống nhiều nên say túy lúy. Ông đung đưa tiến về phía dây phơi quần áo, chân
nam đá chân chiêu, ý ông là định vắt chiếc khăn mặt lên dây phơi nhưng nhìn một
hóa hai. Ngắm cảnh ông "diễn võ” giữa sân, o cháu tôi ôm bụng cười.
“Ha ha! Ông Huy say rồi!
Say rồi!”, o Liên cười nắc nẻ.
“Tổ cha bay!” ông lẩm
bẩm.
“Tau còn lâu mới say!”, ông nội
nói, sau khi vắt được chiếc khăn mặt lên dây phơi, ông loạng quạng đi vô nhà, nằm
huỵch xuống. Chưa đầy mấy giây, ông đã ngáy khò khò.
Nhìn cảnh ông say rượu, tôi bỗng
thèm cảm giác được say, xem lúc say thì nó như thế nào.
Tết. Rượu ở cửa hàng Mậu dịch
quốc doanh hết veo, chú Nam đèo tôi lên xã Tiên Điển, vòng qua Xuân Giang thị
trấn Nghi Xuân mua rượu. Chú mua một can đầy năm lít, rượu màu hồng nhạt. Hình như hồi đó loại rượu này chỉ
bán ở cửa hàng mậu dịch chứ ít bán ở ngoài.
Về nhà, chú Nam mở chum cất
rượu cẩn thận. Đừng léng phéng! Rượu là để dành cho các cụ ba ngày tết, trẻ con
không được uống rượu! “Mi mà uống, tau cho mi chết!” chú Nam dọa tôi.
Kệ! Tôi muốn say! Một lán say
như ông nội đã từng say lặc lè, xem nó như thế nào. Đợi chú Nam rảo cẳng đi
chơi xóm Đông Tây, tôi mở chum, lôi chai rượu ra, ngắm nghía.
Tôi bắt chước điệu bộ uống rượu
của ông nội. Mở nắp, trịnh trọng rót một chén, nắn nót đưa lên quá đầu ngắm
nghía rỗi làm một phát.
Quái lạ! Rượu gì mà ngọt như
nước cam? Hay là mình uống nhầm nước cam? Tôi lấy can rượu đưa ra chỗ sáng xem
xét. Đúng rồi! Can rượu đỏ chú tôi mua từ huyện lỵ Nghi Xuân về, đích thị là
nó. Trong vị cay cay, nồng nồng, nó có vị ngòn ngọt dễ chịu.
“Say răng được mà
say!”, tôi lẩm bẩm.
Ngọt thế thì say thế nào được!
Một chén, hai chén, ba chén, tôi rót liền tù tì tu ừng ực. Ngọt, dễ chịu! Khà
khà!
Xong phim. Tôi tung tăng nhảy
chân sáo chạy vào nhà ông nội cách đó chừng ba trăm mét. Quái! Sao cứ lâng lảng
như sắp bay lên? Tôi ngồi ở bậc thềm thở hổn hển, o Liên thấy mặt mũi thằng
cháu đỏ phừng phừng bèn hỏi:
“Răng mặt mi đỏ như gấc
rứa, cu?”
“Có lẽ say rượu rồi!”,
tôi đáp.
“Mi uống rượu à? gớm mặt!”
o Liên thủng thẳng.
Tôi say thật rồi. Hai tai bùng
nhùng, mặt đất chao đảo, nhìn ra đâu cũng thấy đung đưa đung đưa. Tôi trèo lên
cầy ổi rung vài phát. Quả ổi chín rơi lộp độp. Khoái thật! Rượu ngấm, tôi lò dò
tụt xuống, ôm chặt cái chạng cây gần gốc, cứ thế ngủ gà ngủ gật.
Chiều hai chín, không khí tết
tấp nập nẻo đường quê. Chợ Cương Gián râm ran tiếng kẻ mua người bán, lợn kêu
eng éc, chó chạy đầy đường. Ngày tết là cơ hội để chúng tôi, đám trẻ con được
ăn nhiều thịt. “Ăn đi cu! Cả năm mới được ba ngày tết! Cu ăn cho no kẻo ra
Giêng không có thịt mà ăn!” ông nội tôi lại say, khật khà khật khưỡng ngồi bên
chiếc bàn gỗ, ngón tay ông lần lần nút lá chuối khô.
Làm thịt lợn ngày tết có cái
dã man đặc trưng của nó. Con lợn tạ bị trói nghiến bốn chần vật ra, biết sắp chết,
nó rống lên inh ỏi, hai mắt trợn ngược. Lão đồ tể tay cầm con dao nhọn sáng
loáng, lão lấy nước nóng hắt vào cổ con lợn, xoa xoa đập đập mấy cái cho sạch rồi
bất thình lình chọc một nhát thẳng tưng.
Một dòng máu đỏ lòm ộc ra,
phun xuống cái chậu hứng sẵn. Con lợn bị chọc tiết giãy đành đạch, kêu toáng
lên một hồi, tiếng kêu
nhỏ dần nhỏ dần hóa tiếng rên ư ử. Nửa chậu máu, người ta đổ vào đấy nửa bát nước
mắm chống đông đặc, dành làm món dổi. Nước sôi mang tới, tưới lên con lợn đã chết, tiếng dao cạo
lông xoàn xoạt. Vài chục phút sau, con lợn đã bị xẻ thịt. Lòng ra lòng. Xương
sườn ra xương sườn. Thịt mông ra thịt mông. Đùi ra đùi.
Những tảng thịt nửa nạc nửa mỡ
vớt ra từ chiếc nồi lớn
đang sôi sùng sục, gắp ra rổ chờ nguội rồi các bà các o lấy dao thái thành từng
miếng lớn, xếp vào đĩa chia đều
cho từng gia đình. Lũ trẻ chúng tôi đứng bên đống lửa, chờ bát cháo lòng. Thức
đêm thức hôm thực ra lè để kiếm bát cháo lòng. Gần nửa đêm, nổi cháo lòng chín
tới, nghi ngút khói. Những hạt gạo nở bung, nhũng mảnh tiết nhỏ li ti biến nồi
cháo từ màu trắng chuyển sang màu cháo lòng bốc khói thơm ngậy, mùi rau răm,
rau húng quế lẫn trong mùi thịt chín khiến lũ trẻ thèm chảy nước miếng.
Đêm Ba mươi tết, trời tối như
bưng. Nhà giàu thì đỏ đèn măng-xông, người nghèo thì dùng củi nhóm thành đống
lón, hoặc mang lốp xe đạp ra đốt. “Đốt lửa không chỉ đê sưởi ấm, mà còn để đuổi
ma quỷ!”, bà Thọ bảo. Những chiếc đèn măng-xông được vặn hết công suất, dái đèn
cháy xèo xèo, quầng sáng từ chiếc đèn làm căn nhà tươi hẳn lên. Từ xóm Ngọc Huệ,
Tân Thượng, ngõ Ruồng và xóm Đông Tây, pháo nổ đẹt đùng. Chốc chốc, tiếng mìn nổ
lớn làm tôi giật mình. Ngày đó làng chài nhiều thuốc nổ đánh cá, đêm Ba mươi nhiều nhà gói thuốc nổ làm mìn
chào đón giao thừa.
Chuẩn bị cho ba ngày tết, tôi
lon ton lên Vinh mua thuốc về làm pháo. Gom thật nhiều giấy cũ, cắt ra thành từng
bó, lấy đũa cuộn lại hình quả pháo rồi nhồi thuốc vào bên trong, tra ngòi. Mua ít phẩm
màu, khi đã cuốn được hàng trăm quả pháo, chúng tôi hòa phẩm màu vào nước rồi đổ
pháo vào, lăn đều. Xanh, vàng, tím, đỏ, những quả pháo đan vào nhau dài cả mét,
đem treo lủng lẳng trên cành ổi háo hức chờ đón Xuân sang.
Gần đến thời khắc bước
sang năm mới, tôi xắn quần chạy từ nhà ông Thọ về nhà bà nội, mang diêm ra đứng
dưới gốc cây, cạnh những băng pháo đang treo lủng lẳng. Từng khắc, từng khắc
nhích đi chậm chạp, chuông đồng
hồ điểm mười hai tiếng,
tiếng pháo bắt đầu rộ lên. Tôi bật diêm, gí sát vào ngòi pháo. Ngòi lớn bắt lửa
cháy, tôi chạy vào nhà ẩn nấp, chỉ mấy giây sau tiếng pháo đã nổ ran lên. Khoảng
sân nghi ngút khói, khói pháo xộc vào mũi, cay xè. Dưới nền đất hình thành một
vũng lớn, xác pháo
vương đầy sân.
“Năm mới là phải vui vẻ nhé!”
o Liên nói, rồi lục túi móc ra nắm tiền lẻ mừng tuổi cháu. Lúc này, ông nội đã
chắp tay cung kính trước bàn thờ tổ tiên, miệng ông lẩm bẩm những câu gì nghe
không rõ. Khi những que hương đã tàn, ông tạ lễ rồi bảo tôi giúp ông dỡ mâm cỗ
xuống cho cả nhà cùng ăn.
Ngoài đường, bước chân rậm rịch,
tiếng cười nói xôn xao. Làng tôi từ bao đời nay có tục lễ là sau giao thừa, từng
đoàn người kéo nhau đi “đặp đất”. Anh sang thăm em, con cái đi chúc bố mẹ, cả
nhũng chàng trai sắp hỏi vợ cũng đem lễ đến chào nhà gái nhân dịp đầu Xuân.
Chúng tôi hòa vào dòng người hỗi hả, đi thâu đêm suốt sáng. Tiền mừng tuổi, tôi
và em gái trèo lên cột nhà, mỗi người tìm một lỗ ở thân cột làm “rương” cất kỹ.
Trưa mùng một, nhà nào cũng
bày mâm cỗ cúng gia tiên. Tôi được cử làm chân loong toong, quần xắn cao tận bẹn
mời các chú, các bác đến uống chén rượu đầu Xuân. Tôi ngán tận cổ cái việc chạy
lên ngõ Ruồng, xóm
Đông Tây mời khách, phần vì ngán mấy con chó nhà
bà Dung, phẩn vì đi bộ mệt muốn đứt hơi. Đường mưa lầy lội, bùn đất nhão nhoét, dọc đường
phân người, phân lợn vãi tứ tung. Ngày đó, khắp các ngõ xóm, hễ con nít đau bụng
là bố mẹ bổng ra đường cái, cứ thế thằng cu con hĩm thoải mái “trút bầu tâm sự”
ngay trên đường. Bầy lợn thả rong khỏa thân tổng ngồng chạy khắp hang cùng ngõ
hẻm, phóng uế bừa bãi. Ngại thật!
“Cháu mời ông đến nhà
cúng giỗ!”
Đến nhà các ông trong họ, bao
giờ tôi cũng cúi đầu lễ phép nói như vậy.
“Thằng điên! Giỗ chạp chi! Bữa
ni là tết, cu à!” giọng ông bác say ngất ngưởng.
Rẩy rà quá! Đi mời ăn cũng bị
nạt! Tôi đỏ mặt tía tai đứng tẩn ngần trước sân, chẳng biết giải thích thế nào.
Lũ chó ngửi thấy mùi người lạ, sủa hoắng lên ỏm tỏi. Có con bất thình lình xông
ra đớp tôi phát vào mông.
Tết đợi chờ háo hức, rồi tết
ra đi vội vàng. Vèo cái, đã hết đêm giao thừa, sang mùng một, mùng hai. Chiếc bánh
chưng cuối cùng được bóc ra, thịt cũng cạn, chỉ còn trơ lại mấy mẩu xương co ro rét mướt nằm trong nồi.
“Chịu khó chờ đi cháu, còn lâu
mới lại được ăn thịt!” ông nội bảo.
Lủ trẻ chúng tôi tràn ra ngõ.
Xuân đi rồi Xuân đến. Đường quê rã rượi, đìu hiu, xác pháo hổng nhà ai ướt sũng
trên nhầy nhụa đường mưa.
“Rứa là hết tết rồi nà!” nội
bảo, tay cầm que tre cời bếp than chống rét, ngoài đường gió bấc lùa lạnh căm. “Hết tết rồi!”, lũ con
nít chúng tôi ùa ra ngõ, ngơ ngẩn tiễn tết đi. Khi tết vể thì cả làng háo hức,
chúng tôi đố nhau đoán xem tết đã vể đến đâu, chờ mong từng ngày. Lúc hết tết cả
làng buồn hiu, buồn như vừa đánh mắt điều
gì đó thật gần đây, thật quí giá, trong ngần.
Buồn miên man.
Muốn khóc!
Cái cảnh trời quê dẩm dề mưa
lạnh, đường quê thưa vắng bóng người lại càng làm cho lòng mình não nùng thêm.
Ngọn cỏ ướt sũng nằm trong mưa, hàng tre ủ dột bên đường, tiếng gió lùa hun
hút, không gian ấy đọng lại thành một cảm giác buồn mênh mang thiên cổ.
Và tới đó là cồn cào cơn đói
Giêng Hai. Gió mưa, biển động, thức ăn khan hiếm, ổi trên cây cũng đã hết, vườn
rau mùa lạnh chẳng mấy ai mua, bà không còn tiền mua thức ăn khi bao nhiêu đổng
hào tích góp được đã
dành cho thịt xôi ba ngày tết. Tôi cắp rổ, mang liêm đi về phía bãi cỏ giáp
làng Song Long, Song Phượng hái rau bún cho bà mang ra chợ bán kiếm gạo. Rau
bún là loại cây dại, mọc hoang ở bãi tha ma, dùng để làm thức ăn cho lợn.
Cặm cụi đi giữa bãi tha ma giữa
trời rét căm căm, tôi chăm chú nhìn xuống đất xem có đám cây rau bún nào lẫn
trong cỏ hay không. Mỗi lẩn phát hiện thấy một đám rau dại, thằng bé tôi sà đến,
đặt chiếc rổ xuống đất,
dùng liếm xén gốc rồi đưa lên giũ cho sạch đất
bám ở rễ, bỏ vào rổ. Đi từ sáng đến trưa, hôm may mắn, tôi hái được một rổ rau bún đầy ụ. Nếu rau hái
được không đầy rổ, cũng
phải tìm cách xới xáo
nó lên cho đầy, mới mong bán được.
Thỉnh thoảng, giữa bãi đất trống
tôi lại thấy nhú lên một mầm khoai. Người dân thôn Nam Sơn sau vụ mùa, thế nào
cũng bỏ sót mấy củ khoai nằm lẫn trong đất. Đội mưa đội nắng, củ khoai nảy mầm,
đội đất ngoi lên. Mỗi lần phát hiện thấy một củ khoai mầm, tôi mừng khôn xiết,
vội chạy đến lấy chân gạt lớp đất, nhặt củ khoai cho vào rổ. Có hôm đói quá,
tôi lấy củ khoai chà nhẹ vào ống quần cho sạch đất rồi cho vào mồm nhai ngấu
nghiến. Vị ngọt lẫn trong mùi đất ngai ngái. Đói, ăn gì cũng ngon!
Một mình lủi thủi giữa bãi
tha ma vắng lặng, quạnh quẽ, tự dưng sợ hãi. Cổn cát Song Long gió thổi lùa đất
thành núi cao bốn năm mét, lưa thưa bóng cây phi lao, ở đó có một ngôi đền thầm
nghiêm mà mỗi lần đi qua thằng bé tôi không dám nhìn vào trong, bèn cúi mặt rảo
cẳng bước thật nhanh. Khu đất gẩn bãi phi lao các cố cũng nhan nhản mồ mả, mả mới, mả cũ nằm san
sát, có cái vừa cải táng để lộ thớ đất đen, mấy bộ ván hậu sự chỏng chơ bên khoảng
đất bị đào bới nham nhở, khiến tôi tưởng tượng ra bao nhiêu là chuyện bí hiểm.
Có lúc cắm mặt nhìn xuống đất tìm bụi cây rau bún, tôi đạp trúng khúc xương. Chẳng
hiểu xương chó hay xương
người?
“Trên đồng lúa vàng/ Một
bầy sơn ca/ Trên đồng lúa vàng...”,
chẳng thuộc trọn vẹn bài hát nào, tôi vừa hái rau bún vừa nghêu ngao hát mấy câu nghe lỏm được, hát đi
hát lại từ sáng đến trưa không xong một bài. Nghêu ngao hát cho đỡ buồn, đỡ tủi,
đỡ sợ. Thỉnh thoảng, tiếng loa từ trong làng văng vẳng vọng tới, xa xôi, máy điệu
nhạc xập xinh đám cưới. Đám cưới
làng diễn đi diễn lại như thế, có khi chỉ cần nghe điệu nhạc, lũ trẻ
chúng tôi cũng đoán được đoàn rước dâu đã về tới ngõ
hay chưa.
Gọi là “rước” cho sang, chứ
thực ra đám cưới làng chẳng có rước riếc
chi ghê gớm. Đến giờ Hoàng đạo, nhà trai đi bộ sang nhà gái đưa cô dâu về nhà chồng. Dẫn chương trình là một người lắm mổm,
nói tuyên thuyên cả giờ đồng
hồ không biết chán. “Đến đây, mận mới hỏi đào, vườn hồng đã có ai vào hay chưa?’ Bao giờ cũng
vậy, MC dẫn đám cưới bao giờ cũng khai mào bằng vài câu thơ đại loại như vậy.
Văn lẫn thơ, thc trộn văn thành một đống thập cẩm, om tỏi, linh đình.
Làng hồi đó hiếm người được
đi Tảy. Nhìn người đi
Tây về, biết liền. Mùi nước hoa ngai ngái như nước đái bò, cà vạt cà việc, giày
đinh giày điếc. Cái phong thái của người đi mây về gió khang khác. Cái khạc nhổhành như cũng khác. Đi đứng bẻ
góc ngay ngắn.
Mỗi lần trong xóm có đám cưới,
đám ma là bên trẻ nít
chúng tôi lại trông đợi như có đoàn chiếu phim Hưu động về xã. Thức khuya chơi trò rồng rắn, trốn tìn, bịt mắt
bắt dê, chơi trò đánh trận giả. Trò đánh trận giả hay đáo để. Chục đứa choai
choai bằng tuổi nhau, chia làm hai phe, ẩn nấp trong mọi ngõ ngách, xó xỉnh, cởi
áo trùm kín đầu, cứ thế lăn lê bò toài tiến sát vào nhau. Trời tối như bưng, chả
đứa nào nhìn rõ đứa nào, khi “quần ta” tiến sát “quân địch”, nếu hô đứng tên,
“địch” “chết” tức thì. Nhưng nếu xướng sai tên, “quân ta” sẽ “chết” một thằng.
Cứ thế “đánh” đến cuối trận, quân nào hết người, thua cuộc. Cũng có khi quân ta
“bắn” nhẩm quần mình.
Có hôm cũng lũ bạn chơi trò
trốn tìm, tôi chạy trước, nấp mình bên đống lá khô. Cô bé hàng xóm lò dò bước tới, nó chui tọt vào chỗ tôi,
thở hổn hển... Hai đứa úp mặt vào nhau làm tôi thấy nghẹt thở, mùi tóc nắng
khen khét, người tôi nóng ran lên.
Khi mảnh trăng cuối tháng nhô
lên, là lúc tiếng gà gáy cầm canh le te vọng lại ở cuối làng. Đường khuya tĩnh
mịch, các cụ đi dự đám cưới đả về ngủ hết, trong rạp cưới chỉ còn mấy thanh
niên quây lại đánh tổ tôm, họ uống chè chát thức để canh rạp. Tôi cùng lũ bạn
bò xuống gầm bàn nhặt mẩu thuốc lá người ta vất đi, mang về xổ ra, bỏ đầu lọc,
giữ lại sợi thuốc lá rồi xẻ giấy đem quấn thành điếu thuốc mới, hút phì phèo.
Mười hai mười ba tuổi, chúng tôi đã tập tành hút thuốc lá. Hợp, con dì Linh Tân
bày cho tôi cách cuốn thuốc lá. Một chiếc đũa, một mảnh giấy trắng, một tấm gổ
nhỏ và một ít hổ dán nấu bằng tinh bột sắn, thành bộ đồ nghềcuốn thuốc. Sau này Hợp lớn lên, đi đào đá đỏ ở Châu Bình
(Quỳ Châu, Nghệ An) chẳng may sập hầm,tử nạn.
o Liên nhà tôi khéo buôn bán,
chứ không có duyên với nghề chăn nuôi. Nuôi chó, chó chết. Nuôi gà, đàn gà mỗi
lúc hình như một nhỏ đi. Nuôi lợn, quanh năm suốt tháng ăn uống đầy đủ mất hết
bao nhiêu là rau, là cám, nhưng chú lợn chẳng chịu to lên tẹo nào. En gái tôi
đi học cấp hai trường làng, cô giáo bảo nó làn bài văn tả vật nuôi trong nhà,
nó tả con lợn gầy của oLi ên: “O nhà cháu có một con lợn, chiều dài nửa mét, chiều rộng chưa đẩy nửa mét. Ba mươi tết
o làm thị lợn nhưng mang ra chợ bán hết để mua gạo, khôxit cho cháu ăn thịt lợn, cháu khóc hu
hu!” Tôi bảo nó: ‘Văn mày như cứt! Tả con lợn sắp thành hình vuông Nó làm ra vẻ
ngẫm nghĩ, ờ, ờ.
*
Xuân về.
Cỏ non đánh thức đồng xanh.
Ngọn cỏ nhú Hẩm giữa không gian ngập tràn ánh sáng. Những đàn báo hiệu mùa xuân
chao liệng trên không.
Chú Nam lay tôi dậy từ 5 giờ
sáng. Đơm én lè một thú vui. Bộ đồ nghề rất đơn giản gồm chục chú ér nnồi đã
khâu tịt mắt bằng chỉ đen, ống đựng que nhựa làm bằng
cây rừng, chiếc sào nứa,
giỏ đựng én đan bằng nứa
và mấy cành tre tua tủa làm chỗ rình chim đậu.
Chúng tôi đi bộ bám theo bờ
biển vượt 3 cây đến cửa Bàu, nhánh sông nhỏ cuối làng, khi trời CÒI mờ
sương. Đào đất, lấy cành phi lao vầy kín chỗ ngồihìtnh thành một cái lùm đơm
chim. Chú Nam khác n;ưiời, không dùng 4 cành tre đã vặt trụi lá để làm chỗ cho
én đậu mà chặt nguyên cả một cây tre loại vừa, dựng tênh hênh bên mép sông. Kiểu
này đơn giản gọn nhẹ và rất tiện lợi. Chỉ có điều, vác được cây tre cao lênh khênh từ
nhà ra sông cũng vất vả.
Trời hửng sáng. Từ phương Nam
hàng nghìn con chim én lũ lượt bay về. Tiếng kêu chíp chíp vang khắp cánh đồng. Chúng tôi ngổi dưới gốc
tre già nín thở chờ én sà xuống.
Bầy chim én quần đảo trên trời,
rồi sà xuống đậu trên cành tre, chúng thong thả tỉa tót bộ lông đã ướt sũng vì
sương lạnh, cái đầu ngúc ngắc, ngó nghiêng. Chỉ đợi có thế, chú Nam nhè nhẹ đưa
cầy sào phía đầu có dính que nhựa, chờ én xoè cánh rỉa lông là alê, khẽ chạm
que nhựa vào bên trong đám lông mượt. Khi cánh én khép lại thì đã dính chặt nhựa,
không bay lên được. Bịch.
Bịch. Bịch. Những chú én lần lượt rớt xuống nằm quay lơ trên cỏ. Chừng nào trên cây tre không còn mống chim
nào nữa, chúng tôi lổm cổm
bò ra, nhặt én cho vào giỏ.
Đơm từ sáng tinh sương đến
trưa đứng bóng, đã một giỏ én đầy.
Mùa xuân. Nắng miên
man, gió đông thổi về se sắt.
Hè báo hiệu bằng những trận
gió Tầy Nam hanh khô, nóng bỏng. Đây cũng là mùa nhộn nhịp hoạt động đánh bắt hải
sản gần bờ: giả, lưới rẻo. Gỉa có giả kéo bằng máy và kéo thủ công bằng tay.
Không có thuyền máy, chúng tôi đi giả thủ công. Một tấm lưới dài khoảng
20m, phía đuôi là cái đáy đựng ruốc (mo tươi) đánh bắt được, phía trước kẹp
phao, bên dưới buoc chì. Hai tay cầm cách nhau khoảng lOm, cứ thế, chứig tôi đi
dọc biển ở mực nước ngang hông, có khi sâu bơn để đánh bắt ruốc tươi.
“Chuẩn bị đi kéo giả nhé”,
chú Nam bảo. Được bơi lội
tung tăng dưới nước, cắt sóng giữa lúc trời nóng bức thế này, còn gì bằng.
Chú ôm lưới. Tôi cầm cuội dây, nhằm hướng Song Long, Song
Phượng, hai làng tế cận nằm trong xã Cương Gián. Chú cử tôi xuống niớc dò luồng
moi (ruốc). Đi một thôi dài, dưới chân thỉy lăn tăn, đi thêm chốc nữa thì lạc
vào bãi moi dày đặc. Hàng trăm con moi nhỏ đâm vào chân rộn ràng. Tôi gơ tay vẫy.
Chú Nam vác giả xuống, cột dây, chúng tôi đ cách nhau chừng chục mét. Bắt đầu kéo.
Tiếng sóng vỗ rì rẩm. Gió nhẹ.
Đó là những ngày đẹp trời,
biển lặng. Kéo được gần ba mươi phút tù chú bảo dừng tay. Tôi cầm chạc hỗ trợ,
chú kéo lướ. Vừa kéo vừa giũ cho đám moi chạy về phía đáy. Nếu mà dày đặc, một tay kéo có thể
đánh bắt được hàng yến hàng tạ moi tươi. Có hôm hai chú cháu kéo được gần ti
moi. Phải chạy bộ về
nhà gọi người ra gánh.
Moi mang về, thứ thì chế biến thành mắm tôn, thứ
phơi khô, dữ trữ làm thức ăn ngày đông tháng ret. Chỉ cần phơi trên nên gạch
vài tiếng đồng hồ, moi lần
khô như sấy. Chế biến moi tươi thành mắm tôm cmg là công việc đơn giản: cho moi
vào chum sành, một lượng muỗi vừa đủ, đảo
đều, đem ủ vài ba
thángngoài trời. Nắng thì cởi nắp, mưa thì đậy kín, moi sẽ tự phân huỷ thành mắm
tôm. Nước mắm rút từ chum mắm tôm còn ngon hơn, đặc biệt hơn nước mắm chế biến
từ cá cơm, cá thích.
Bên dưới đáy
chum sành đục lỗ nhỏ,
cắm chốt bằng gỗ, đợi đến lúc mắm tôm chín thì rút chốt, nước mắm tự chảy xuống
từng giọt, gọi là nước mắm rút. Thứ nước mắm vàng óng ánh như mật ong, thơm lừng.
Nghề kéo giả bằng tay cũng cần
kinh nghiệm. Chú Nam là người có nhiều kinh nghiệm trong công việc này. Chiều
tà, chú thong thả đi ra phía biển nhìn sóng nước, trời mây và nghe gió thổi.
“Màu nước càng trong xanh, moi càng ít. Lúc nào biển đỏ đục như phù sa và gió
Lào thổi nhẹ, lúc ấy sẽ có nhiều moi vào gần bờ!” chú Nam nói. Có hôm hai chú
cháu đi kéô giả thủ công, tiến vào vùng nước đỏ quạch, phát hiện dưới chân cơ
man nào là moi. Những sinh vật nhỏ bằng que tăm tung tăng quậy đạp, có con tung
mình nhảy cẫng lên mặt nước, thật vui mắt.
Chú Nam, chú Tửu là những người
hay ăn mặn. Mặn như không thể nào mặn hơn. Với nước mắm rút, hai chú cứ múc từng
thìa chan vào bát cơm, ăn ngon lành. Trai làng lao động mệt nhọc, nấu 5 lạng gạo
một mình xơi hết veo. Chú Nam có cách thử nước mắm hay lạ đời, chú đổ một ít nước
mắm vào bát sành, lắc qua lắc lại. “Loại nước mắm ngon, sẽ nhìn thấy nước mắm
bám vào thành bát. Còn không, đó chỉ là loại nước mắm thường thôi”, chú bật mí.
Đánh bắt moi (ruốc) vào đêm trăng mới
thú. Bì bõm bơi giữa sóng biển đầy ánh lân tinh, căng mắt quan sát trên lớp
sóng bạc màu tìm lớp moi trôi nổi. Dưới ánh trăng, bầy moi uốn mình bắn tung
toé. Hai chú cháu dàn hàng ngang, giơ cao lưới trên đầu đón moi lọt vào đáy. So
với kéo lưới ban ngày, kéo giả về đêm là công việc vất vả, khó khăn, tốn nhiều
công sức nhưng lượng moi thu về chẳng được bao nhiêu. May mắn lắm, hai chú cháu
được vài chục
cân moi tươi
mỗi lần đánh bắt.
Nộm moi chế biến đúng cách của dân
miền biển, là món ăn đặc sản. Những con moi tươi roi rói vừa vớt lên khỏi chân
sóng cho vào nồi luộc chín, luộc xong đổ ra rổ để một lúc cho ráo nước. Khế
chua cắt thành từng lát mỏng, thêm ít lá chanh thái chỉ, lạc rang vàng giã nhỏ.
Tất cả gia vị đem rắc lên moi nấu chín, trộn đểu, bỏ thêm thìa muối. Thế
là thành món ẩm thực độc đáo. Nộm moi kẹp bánh đa nướng giòn tan cộng với be rượu
kể môi là thành cuộc nhậu tưng bừng.
Mùa moi, cả làng vào ngày hội. Những
chiếc thuyền cập bờ trong đêm trăng sáng, ngư dân khệ nệ bưng vào từng thúng
moi đẩy ắp, tươi roi rói, chờ các bà các chị gánh về nhà. Đám con nít chúng tôi
í ới gọi nhau đi hôi. Mấy đứa choai choai tay cầm vợt, tỏa ra khắp bãi biển,
bám theo những bóng người đang vắt vẻo quảy gánh. Trong đêm tối như bưng, từ
phía sau, những đứa bé nhanh như sóc bất thình lình xông tới, dùng vợt xúc một
phát rồi ù té chạy!
“Này! ới giời
ơi!”.
Chị gánh moi kêu lên một tiếng, tiếng
kêu lạc vào đêm vắng. Các ngư phủ ùa đến, lùng trong đám phi lao, hô om tỏi. Bố
ai tìm được mấy đứa con nít hôi moi thoắt cái đã lặn mất tiêu. Thành ra, để bảo
vệ cho các bà, các chị, sau đoàn gánh moi bao giờ cũng có vài ba anh thanh niên
cầm đèn pin đi theo sau hộ tống.
Có chiều trên bãi cát chất đầy moi,
hàng tấn chứ không ít. Đám con nít lượn lờ như ma, nhưng chẳng đứa nào dám bén
mảng đến, bởi chú Hương xóm Cẩu Đá thân hình vạm vỡ như đồ vật, lừng lững đứng cạnh đống moi,
canh chừng. “Chậc! Sợ chi chứ!” tôi nghĩ thầm, ước lượng khoảng cách. Cậy mình
nhỏ thó, chạy nhanh như tên bắn, tôi lao vào xúc một phát, ù té chạy.
“Anh ơi! Nó
hôi kìa!”
Vợ chú Hương la lên. Chạy! Ba chân
bốn cẳng, tôi co giò chạy bán sống bán chết. Chưa đầy năm chục mét, ngoái cổ lại,
hổn vía lên mây khi thấy người đàn ông lững lững đuổi riết sau lưng. Chân thằng
bé tôi ngắn, cổ sống cổ chết vọt ba bước bằng chú
Hương nhón một bước. Thành ra, cứ chạy hoài mà khoảng cách càng thụt lùi.
Chú Hương thò tay, túm lấy tóc tôi.
Chẳng nói chẳng rằng, người đàn ông to bự vật ngửa thằng con nít tôi ra, tóm lấy
lưng, giơ lên ngang đầu rồi ném cái bịch!
Oái! Trời đất
tối dần lại. Tôi ngất lịm.
“Thằng bé
chết rồi!” giọng ai đó hốt hoảng.
Tỉnh dậy, tôi lờ mờ nhận ra mình
đang nằm chỏng chơ trên cát, máu từ miệng ứa ra, quán áo xộc xệch lẫm lem, xung
quanh moi rơi vung vãi. Moi lẫn cát, thành đống bầy hầy.
“Chú hơi quá tay! Cháu thông cảm!”
Vợ chú
Hương dỗ dành. Tôi lồm cồm bò dậy,
không khóc.
“Có can chi không cháu?”
Tôi lắc đầu,
im lặng, mặc dù toàn thân đau ê ẩm. Ném một đứa con nít trên trời xuống, không
chết sặc gạch là may! Mà cũng may, xung quanh toàn cát mềm. Nếu sàn xi măng hoặc
đường nhựa, rơi một phát trời giáng như thế, chết chắc!
“Cháu thông cảm! Đừng làm chi nhé!”
Vợ chú
Hương dỗ dành, xúc cho tôi một vợt moi đầy, gọi là bồi dưỡng cú ném kinh hoàng.
Tôi lắc đầu, từ chổi.
Lặc lè đứng
dậy, phủi quần áo, tay không đi về, tôi bắt đầu nghĩ kế hoạch trả thù. Đêm nay,
tôi sẽ ném đá lên mái ngói nhà chú Hương cho biết mặt. Tôi sẽ nghiên cứu xem vợ
chồng chú hay nằm ở chỗ nào, nằm chỗ nào thì tôi ném đá lên mái ngói vào chỗ ấy,
ngói vỡ sẽ rơi xuống, kiểu gì cũng trúng chú Hương cho mà coi. Ha ha! Một kế hoạch
hoàn hảo!
Nhưng vợ
chú Hương, nhỡ may ngói vỡ rơi trúng người dì ấy thì tội lắm? Dì ấy chẳng có lỗi
chi cả! Hơn nữa, dì ấy đã bảo mình thông cảm. Đã bảo thông cảm thì thông cảm
đi! Hơn nữa, Chú Hương tức giận nhất thời, hành động bột phát chứ có gì đâu.
Ném đá lên mái ngói nhà người khác như thế thật hèn hạ!
Thôi bỏ đi! Tôi tự nhủ lòng. Đêm
đó, thằng bé tôi người đau ê ẩm đã ngủ ly bì. Mà nữa, chắc gì tôi đã dám ra đường
một mình giữa đêm khuya thanh vắng; sao nỡ cầm cục đá ném lên mái ngói hàng
xóm. Eo ơi! Ngoài đường lắm ma!
Đường đời loanh quanh, tình quê ràng rịt. Ô hô! Mấy
năm sau đó, tôi lớn vống lên, chú Tửu con bác Thọ đi cưa, lấy mự Thắng, em chú
Hương. Thành ra, tôi và chú Hương, người đã xách tôi như xách một con ngóe ném
tôi cái bịch khiến tôi ngất lịm, trở thành bà con!
Mùa đông giá rét, mưa dầm dế. Những
con thuyền tấp vào
bãi cát tránh gió, phơi mình trên bãi vắng tịch liêu. Cá khô dự phòng đã hết,
thiếu thức ăn, tôi cùng đám bạn mang vợt đi bắt cá sông. Con sông nhỏ uốn mình
dưới chân núi Hồng Lĩnh chỉ toàn cá vặt: cá mương, cá chép, cá tràu nhỏ bằng
ngón tay. Dụng cụ đánh bắt cá là mảnh lưới kẹp chì, buộc vào hai cành tre thành
cái xiếc, cứ thế đẩy đi. Đẩy một quãng dăm chục mét thì dừng lại, giơ xiếc lên
xem có con cá nào lọt vào không rồi thò tay ra bắt. Bên mình, đứa nào đứa nấy đeo sẵn
chiếc giỏ đựng cá.
Lạnh tê tái. Nước sông lạnh ngắt
như muôn vàn mũi kim châm vào da thịt. Trên bờ sông, đám tre, rặng phi lao cũng
ướt sũng, xanh mướt
trong trận đại hàn. Lũ chúng tôi đứa nào đứa nấy mặt đen nhẻm, bê bết bùn đất,
vừa bì bõm hì hục đẩy xiếc vừa thở dốc. Quá mệt.
Nhưng chẳng có cách nào khác. Hoặc là bữa ăn chỉ có
canh và rau, hoặc ráng thêm chút nữa cho cả nhà có thêm chút cá tươi. Bụng đói
cồn cào. Càng lạnh càng đói. Có đứa đói quá vừa đi vừa khóc. Tôi nhìn sang Long
Tam bạn học cùng lớp, gương mặt nó đầm đìa, không hiểu vì nước sông chan hoà
hay vi nhọc nhằn, tủi phận.
Mười hai tuổi, tay tôi to như chân,
chân bé như tăm, thẳng đuột, gầy gò, đen nhẻm. Tuổi ấy, tôi đã vác cào đi cào
nghêu ngoài biển. Ngày hè, chúng tôi thức dậy lúc năm giờ sáng, í ới gọi nhau
ra bờ biển và bắt đầu đi thụt
lùi cào nghêu. Phương tiện cào nghêu là cái cọc tre dài chừng hai mét, một đầu bổ toác ra làm đôi, lắp vào đấy
lưỡi thép dát mỏng, giữa cọc tre buộc một chiếc giỏ bằng lưới để đựng nghêu. Từ
xóm Cầu Đá, chúng tôi đi thụt lùi xuống tận làng Song Phượng cách đó khoảng
6km. Do phải lần mò từng
bước một nên từ Cầu Đá đến Song Phượng có khi mất một buổi sáng.
Muốn nhặt được nghêu to, lũ con nít
chúng tôi phải sang xa bờ, ở mực nước ngập ngang cổ. Thụt lùi từng bước nặng nhọc,
hễ nghe tiếng “cạch” thì dừng lại, lặn xuống dùng tay moi đất tìm nghêu. Gặp
con sóng lón đánh tới tấp, nước ngập đầu, kiểu gì cũng phải tợp vài ngụm nước
biển. Có khi tiếng “cạch” vọng ra liên hồi nhưng chẳng
tìm thấy con nghêu nào. Cái lưỡi thép cà vào vỏ ốc, “cạch!” một tiếng; lưỡi
thép va trúng hòn đá, lại ‘cạch!”...cúi lên cúi xuống liên hồi, lưng mỏi nhừ, vài ba chục phút dầm
mình dưới nước biển như thế, có khi cũng nản! Thỉnh thoảng, chúng tôi lại giẫm
lên ổ nghêu. Nghêu mẹ, nghêu con nằm chi chít dưới đất, chỉ cần khoắng nhẹ chân
một cái là hốt được đầy giỏ.
Trưa đứng bóng, mặt trời thiêu đốt
hun nóng gió Lào khô khốc biển bãi cát thành cái chảo lửa khổng lồ. Mặt biển nóng hầm hập, bãi cát
khô như rang, tôi tháo dây đeo vác chiếc cọc tre cào nghêu lên vai quay về xóm
Cầu Đá. Sau mấy giờ lao động, chiếc giỏ đã đầy nghêu khiến nó nặng trĩu. Thằng
tôi lom khom vác chiếc cọc tre và giỏ nghêu lúi húi đi về nhà. Cuốc bộ được cây số, nặng
quá, tôi dừng lại nghỉ chân, đoạn lại bế phốc giỏ nghêu lên trước bụng lặc lè
lê bước. Mồ hôi túa ra dấm dề.
Đường xa là nỗi sợ, nhưng cơn đói cồn
cào mới là kinh hoàng!
Năm giờ sáng đến mười hai giờ trưa,
mấy tiếng đồng hồ ngâm
mình trong nước mặn và bước thụt lùi cả chục cây số, đói cồn cào! Đi được một chặp,
tôi thở dốc, không dám ngẩng mặt lên nhìn vẽ phía xóm Cầu Đá vì sợ đường xa, lại
cắm cúi đi tiếp. Động viên cái bụng, tôi cố hình dung mình đang ngồi trước mâm
cơm. Hình ảnh những hạt cơm nóng hổi, nồi canh nghi
ngút khói, nước dãi cứ ứa ra. Tôi nói với Long Tam: “Ước chi có chiếc máy bay
bay qua đây, thả xuống một cục
xôi, hai đứa mình chén no nê!” Nó lẩm bẩm: “Mi ngu rứa! Càng ước càng đói!” Nói
rổi, nó bước phăng phăng, để lại sau lưng thằng bạn bụng đói cồn cào và điều ước ngu ngốc có chiếc máy bay bay
qua thả xuống cục xôi to đùng làm cái đệt.
Có những ngày đi cào nghêu vào ban
trưa, về đến nhà thì
đã tối thui. Chợ chiều Cương Gián đã vân, ngõ xóm lên đèn. Bụng đói cồn cào, mệt rã rời, cô em gái nhìn
giỏ nghêu lắc đầu, bĩu môi:
“Anh đi về muộn rứa, giờ ni bán cho chó à!” Tôi ngồi phịch xuống đất. Chẳng hơi sức đầu
mà “tay bo” với nó. “Không bán ấu, thì để ăn
vậy!” Nó nhìn tôi, sau đó nguýt một cái gõ dài, tung
tăng đi vào bếp lúi húi dọn cơm. Bà nội tỏ, nghe đứa em mắng anh, bà nạt: “Thằng
anh mi đi về đi mệt, không động viên nó thì thôi, còn nặng lời như nia nó không
đập cho là may!”
Sau những lần nó mắng tôi như thế
thì tức lắn, nuôi ý chí “trả thù” nó. Em gái tôi học lớp ba, lớp bốn đã biết làm “kinh tế”. Nó xin bà và
o Liên mấy đồng làm vốn để “buôn
bán”, hàng hóa của nó là túi ni-lon đựrg kẹo bom(,). Giờ nghỉ giữa
hai tiết học, tôi bảo nó:
“Mi đưa túi
kẹo đây tau bán cho!”
Cô em gái tưởng thật, bèn giao hết
túi kẹo của anh trai.
Tôi cầm túi kẹo vể lớp, phát cho bạn mỗi đìa một cái, còn nữa ăn sạch.
Cuối giờ học,
Tâm đến tìm tôi.
“Kẹo anh
bán hết rồi à? Giỏi hè!” nó khen.
“Tau ăn hết
rồi!”, tôi đáp.
Đứa em nghe
xong, nằm ra đất giãy đành đạch.
*
Đói. Thấp thỏm cơm chiều, o Liên là người
nội trợ đảm đang trong gia đình, o luôn ngồi gần nôi để xới cơm cho ông bà, và
tôi. Thức ăn chẳng ra gì, tôi càng muốn ăn thêm
nhiều cơm nhưng
gạo thì có hạn. Đói triền miên, đôi
lúc bà và o Liên đi chợ về mua được dăm bảy cân gạo dự trữ trong chum nhưng
không dám đưa ra ăn, mà để dành khi mưa bão kéo dài. Ông nội, bà nội có chiếc
áo mới, chẳng dám mặc vì sợ cũ đi, mòn đi. Ông bà đem áo mới cất dành trong
chum.
Tôi ngồi cuối mâm, trên chiêc ghế
thấp lè tè. o Liên khua khoắng một hồi, xới bát cơm lưng chừng. Định trao
cho cháu nhưng nghĩ gần nghĩ xa, o Liên đắn đo giũ bát cơm trên tay mấy giây rồi
nhẹ nhàng gạt bớt đi một ít. Xong xuôi, o lại nâng bát cơm lên, ngắm nghía.
Nghĩ thương đứa cháu, o Liên lại thêm thắt cho thằng cu vài hạt gọi là.
Cứ thế nâng lên, đặt xuống, đắn đo,
cần nhắc. Khuôn mặt o buồn buồn, khổ hạnh. Nét khổ hạnh buồn đau, dường như đã vận vào o tôi từ
khi lỡ bước sang ngang, khi đà rạn vỡ tình duyên.
Đã chịu nhiều đắng cay. Đã gánh nhiều
cơ cực. Hình như thế nên o tôi hay cáu gắt. Đùng một tý là cáu gắt nhưng cáu
xong rồi thôi, o chẳng để bụng gì đâu. Mỗi lần o tức khí hét toáng lên, đá thúng
đụng nia, tôi lẳng lặng im re, tìm một chỗ khuất ngồi im thin thít hoặc vù ra
ngõ chơi đánh đáo, đánh khăng, đá bóng với lũ bạn.
Trường cấp
hai Cương Gián nằm bên sông Rào, bên kia là núi Hồng Lĩnh cao chót vót. Trên núi Hồng
có chùa Hương Tích, phía huyện Can Lộc. Mỗi lần đám trẻ rủ nhau đi chùa, phải
trèo qua nhiều ngọn núi nhỏ, vượt qua nhiều thung
lũng, mất nửa ngày. Có hôm thằng Lân bạn cùng lớp đi hái sim, lạc đường, nó
loay hoay cả buổi nhưng không tìm được đường xuống núi. Vừa đói vừa khát, cu cậu
bí quá vạch chim ra đái vào mũ, uống nước đái cho đỡ khát.
Bên này trường học là bãi đất trồng
mạ của nông dân thôn Nam Sơn. Tan học, lũ trẻ chúng tôi đi vòng lên phía cổng
chính, mới có đường về. Nhà thằng Sơn ở phía đối diện. Nó chạy băng qua đám mạ,
chỉ làm hư mấy đám lúa non, vậy mà bị nhà trường mang ra kiểm điểm, đuổi học thẳng
cổ. Tôi làm lớp trưởng bảy nãm, đến năm thứ tám thì “thoái vị”. Cô chủ nhiệm hỏi,
tôi bảo “em làm lâu quá rồi, nhường cho bạn khác”.
Thực tình, làm lớp trưởng chỉ tổ
thêm nhiều khê, rắc
rối. Đến cuối giờ, tan học, cô giáo bắt cả lớp chia thành bên nam bên nữ xếp
thành hai hàng, hàng nào thẳng thì lớp trưởng cho về trước, hàng đứng cong lẽo đẽo theo
sau, khuất cổng trường mới được giải tán đường ai nấy đi. Bên nữ đứng thẳng
hàng hơn, tôi cho vể trước. Phía dưới, có thằng giơ nắm đấm lên dọa.
Vừa đi bộ ra khỏi cổng trường, đến
đường cái quan, bọn Lâm, Lân và mấy thằng thôn Đông Tây nhất tề xông vào, đánh lớp trưởng túi bụi,
can tội cho bọn con gái ra về trước. Chúng nó đông quân, lại đoàn kết, nhất hô bá ứng, bố ai dám đánh lại, nhất
là đối với một kẻ thân cô thế cô như tôi.
Bị cái hội thôn Đông Tây gây sức ép
chưa đủ, tôi còn chịu áp lực bởi thằng Trương Bình ở xóm Cầu Đá. Mỗi sáng đi học,
tôi phải đi ngang qua cổng nhà nó. Sáng nào nó cũng đứng chắn ngang đường, bảo
tôi phải xách cặp đến trường cho nó, nếu không là nó đánh tơi bời khối lửa.
Trương Bình đô con, to gấp đôi tôi,
làm tôi thấy yếm thế. Nhưng sáng nào cũng phải xách cặp cho nó như nô lệ thì tức
anh ách, tức không chịu được. Nó ép tôi quá đáng đến lúc tôi phải phản kháng.
“Bữa ni tau không xách cặp cho mi nữa!”,
tôi tuyên bố xanh lè.
“Đập chết
giừ! Xách mau!” nó hạ lệnh.
“Không
xách!”, tôi cương quyết.
Cái thân hộ pháp, to phè của nó sấn
đến. Tôi thách: “Mi xuống bãi phi lao các cố vật chắc với tau, nếu tau thua,
tau xách cặp cho mi. Nếu tau thắng, thì đừng hòng!”
Nó nói ô kê, đoạn phăm phăm đi xuống
bãi phi lao các cỗ. Chúng tôi chọn một khoảng đất trống, quăng cặp sách cái đệt,
xắn tay áo, lao vào vật nhau chí tử.
Chưa đầy một hiệp, nó túm được lưng
tôi, quăng tôi cái độp. Nó ngồi chỗm hổm trên lưng tôi, hò hét: “Phục chưa? Thua chưa?” Tôi hét: “Chưa phục!
Chưa thua! Mả vật tiếp”.
Làm lớp trưởng nhiêu khê, tôi xin
“từ chức”. Vả lại, làm lớp trưởng
bảy năm, có được cô chủ nhiệm ưu tiên cái gì đâu, đến điểm tổng kết cuối năm
còn bị ăn gian nữa là huống chi.
Úi dà! Chuyện
là thế này. Năm lớp sáu, lớp bảy chi đó, nói chi đó là vì quá lâu rồi mấy chục năm rồi tôi không nhớ
rõ, cữ đó cũng năm hết tết đến, lớp tổ chức tổng kết. Trong lớp, cu Trung bổng
ngoi lên xếp đầu bảng về môn Văn. Qua các lần thi học kỳ,
môn Văn của tôi bao giờ cũng đạt điểm cao nhất. Toán thì có Nhương, biệt danh
là Nhương Bà. Trung học không giỏi, mà yếu đều các môn, bỗng một phát chễm chệ
ngồi chiếu
trên. Thế có tức không chứ!
Tôi hỏi Trung, nó khai thật, bữa
trước lấy được của mẹ chai nước mắm, đem biếu cô chủ nhiệm. Chẳng biết nó chạy
chọt nịnh nọt thế nào mà, cuối năm, điểm Văn của nó bỗng cao lêu nghêu, ngất
ngưởng.
Tôi gặp cô giáo chủ nhiệm, phàn nàn
điểm chác. Cô an ủi, thôi em im đi đừng nói nữa, đừng phàn nàn thêm với ai, để
cô nâng điểm của em lên cao hơn điểm của Trung là được chứ gì!
Tôi vùng vằng,
giận dỗi:
“Em nỏ cần!”
Rồi bọn trẻ chúng tôi cũng quên đi,
chẳng ai để bụng. Hằng ngày, tôi, Trung và lũ bạn vẫn rủ nhau ra sân trường đá
bóng với lớp A. Trung mỗi buổi đi học vòng qua mấy xóm, ghé qua nhà tôi, lúc
thì nó mang cho tôi quả khế, lúc cái kẹo lạc. Nó là đứa nghịch ngợm nhưng tốt
tính. Lớp tôi học thì dốt đặc cán mai nhưng cái khoản đá bóng và bỏ học thuộc
diện giỏi nhất trường. Trung chạy tiền đạo với Tuấn Thản, Long Tam, tôi đá tiền
vệ, thêm bọn Làm ỉ, Lân Đum, Tròn Bẹp hậu vệ, đứa nào đứa nấy khỏe vô địch, di
chuyển nhanh như sóc, trong trường cứ gọi là vô đối!
Thấy Quýnh quê Xuân Giang làm chủ nhiệm
lớp tôi một năm. Thầy cao tuổi, già nhất trường, dạy môn đại số. Tôi học khá
Văn, còn Toán thì ngu hết chỗ nói. Ngu môn Toán nhưng chẳng hiểu sao có năm,
trường lại cử tôi đi thi học sinh giỏi môn này. Tôi vào phòng thi, giám thị ra
để xong, bỏ ra ngoài uống nước chè. Tôi cắn bút, lòng dạ rối bời, chẳng biết giải
bài thi như thế nào, bèn vẽ một cái đồng hồ rổi đem nộp. Về nhà, thỉnh thoảng lại
dương dương tự đắc, ta đây từng đi thi học sinh giỏi môn Toán. Lên huyện thi hẳn
hoi nhé!
Ngu còn tỏ
ra nguy hiểm!
Thầy Quýnh càng già càng yếu, áng
chừng thầy sắp về hưu thì phải. Nhà trường chia cho thấy một dằm đất trồng lạc,
thầy tự tay cuốc đất, xe luống, lưng thầy giáo già còng xuống giữa chang chang
nắng trưa hè.
Thương thầy,
tôi bảo bà nội:
“Bà ơi! Con
muốn biếu thầy chai nước mắm, bà ạ!”
Bà bảo:
“Ử! Nhưng biếu nước mắm xong, nhớ mang chai về cho bà!”
Tôi dạ, tung tăng xách chai nưóc mắm
đến trường biếu thầy. Gõ cửa phòng, không có tiếng trả lời, tôi lon ton chạy ra
đồng lạc. Thầy
đang lúi húi nhổ cỏ.
“Ờ! Ờ!”
Thầy ngừng tay, thất thểu bước về khu nội trú. Mở cửa cất chai nước
mắm, nói cảm ơn, xong thầy lại phủi đít định đi ra đồng lạc. Tôi hốt hoảng níu ống
tay áo thầy: “Thầy ạ! Cho em xin lại cái chai!”
Thầy Quýnh à ừ, chẳng nói chẳng rằng,
mở cửa phòng rót nước mắm vào một cái chai khác, rồi đưa cái chai cũ cho tôi.
Năm sau, thầy về hưu. Từ đó tôi chẳng bao giờ gặp lại
thầy Quýnh nữa.
Lại bàn chuyện đá bóng. Không đủ tiền
mua bong bằng da, góp được một ít, chúng tôi mua quả bong nhựa bằng quả bưởi,
chia hai phe chạy từ sáng đến giữa trưa hè chang chang nắng không thấy mệt. Hơn
chục đứa choai choai hò reo inh ỏi, thi nhau giẫm, đạp túi bụi, bụi bốc mù trời,
chẳng mấy chốc quả bóng rách toác. Bí thế, tôi lại lấy tấm lưới cuộn lại hình
quả bóng để đá. Có hôm hai phe tức nhau, bỏ bóng đá người. Cứ lừa lừa quả bóng
đến gần đối
phương, bất thình linh nhè cẳng chân mà phang. Trái mánh, có đứa nằm lân ra đất
giãy đành đạch. Đau kinh khủng, đau thế thì chết đi cho rồi!
Tan học, tôi mang bóng vể nhà cất
giữ cho lớp. Dọc đường về, cái
Nhương lớp phó học tập đi sau, tôi quay lại nói “Nhương thử bắt quả này nhé!”
Nói chưa dứt lời bèn căng chân đá cái bụp.
Qủa bóng bay đi, trúng ngực cô bạn
gái. Nó ôm ngực ngồi thụp xuống làm tôi
bối rối. Ngu thôi rồi. Tôi chạy đến dỗ ngon dỗ ngọt, xin lỗi nó rối rít.
Nhương nước mắt giàn giụa, chẳng
nói chẳng rằng, ôm cặp đi thẳng một lèo vế nhà. Lát sau, bà Bính mẹ Nhương quần
ống cao ống thấp te tái sang nhà tôi. Bà bắt đầu chửi. Bà chửi liên thanh một thôi
một hồi như kiểu người quê chửi gió khi mẫt gà mất vịt.
“Xương cha mi thằng L nha! Con gái tau đã đến kỳ có
kinh nguyệt rồi đẫy nha!”
Nắng loã lồ phơi mình trên bãi cát
trắng tinh vùng bãi ngang. Khi chiều xuống, không gian gió Lào đã bớt đi cái nóng
ngột ngạt của mùa hè oi ả. Tôi ngồi trước biển ngắm những đợt sóng trườn lên bờ
rồi tan ra thành những lớp bong bóng nhỏ li ti.
Cảm giác
mình là nước mềm.
Linh Từ đã đứng phía sau tự lúc
nào. Bàn tay im lặng đặt lên vai tôi:
“Cõng em nhé. Một đoạn thôi!” tiếng
em khe khẽ.
Tôi quay lại. Cô em gái nhỏ mỉm cười
thiên thần. “Sau này cháu lớn lên, sẽ là cô gái đẹp nhất Cương Gián đấy!” chú
Nam thường nói về Linh Từ. “Đừng khen cháu thái quá như vậy. Phải nói nó là đứa
gầy gò, xấu xí”, bà nội của Linh Từ nạt. Bà không muốn ai khen cháu của Bà khoẻ,
ngoan và đẹp. “Quở nó như thế, nó thường hay bị ốm đấy”, bà bảo.
Có lẽ bà nói đúng. Trong làng, nhiều
cặp vợ chồng sinh
con, họ chọn những cái tên xấu xí nhất để đặt cho con. Anh cặc Ngựa, Tỉu bọ ở
xóm Đông Tây; anh GiỏTờ ở thôn Ngư Tỉnh; mụ Em Diện ở thôn Hồng. Người làng tôi
quan niệm tên càng xấu, càng ít bệnh lật và sống lâu.
Mặc kệ, chú Thọ vẫn đặt tên con gái
đầu lòng là Linh Từ. Một cái tên đẹp huyền bí. Tôi còn nhỏ, không đủ trình độ để cắt nghĩa tên
em.
Hồi đó trên tường nhà treo bức ảnh
tết hình cô bé mủm mỉm, đôi mắt tròn trong veo, mái tóc ngang vai, má lúm đồng
tiến hồng hào và cái miệng cười tinh nghịch. Bức ảnh rất giống Linh Từ. Chúng tồi
thường chỉ lên ảnh và hỏi: “Từ thấy ảnh em bé có giống Từ không?”
Nó cúi mặt, âm thầm: “Giống lắm.
Nhưng Từ chưa bao giờ được chụp ảnh cả. Hôm nào anh đưa Lirh Từ đi chụp ảnh
nhé!”
Tôi cõng em tung tăng chạy dọc bãi
biển. No nhẹ tênh. Từng bước chân lún trên cát, được một quãng, chúng tôi ngồi nghỉ. Linh Từ
không chạy nhanhnhư thường
ngày. Đôi mắt thơ ngây đăm chiêu nhìn chân sóng. Chẳng biết đầu óc trẻ thơ đang
nghĩ ngợi những gì.
Biết bao chiều mùa hạ êm đếm đã trôi qua nhí vậy.
Linh Từ là con gái của chú Thọ, em kém tôi lOtuiổi. Chúng tôi không phải anh em
ruột nhưng yêu thương, gắn bó
với nhau hơn cả máu thịt. Những đêm oi
ả, chúng tôi ôm nhau thiêm thiếp ngủ trên chõrg tre trước sản nhà. Ngày
đông rét mướt, tôi chia nửaplhần chăn cho em.
Mùa đông
giá lạnh gió lùa bốn phía. Có mưa dầm dề. Có quãng đường trơn. Có bầu trời tối om
đom đóm lập loè và ma trơi dập dờn trong câu chuyện kể.
Em sinh ra trong thời buổi cơ hàn.
Bố nghề biển, quăng quật với sóng với gió. Mẹ nội trợ. Thỉnh thoảng, mự Thu chạy
chợ kiếm gạo. Gia đình mấy miệng ăn mà sớm chịu cảnh đói nghèo, chật vật.
Buổi tôi đi học ở trường làng Cương
Gián. Chẳng biết chơi với ai, Linh Từ tha thần quanh gốc cây làm bạn cùng chú dế.
Dế và kiến là hai sinh vật Từ thích nhất. Một tổ kiến, một con dế, những đường
chạy li ti, Từ có thể quên ăn quên ngủ mà chơi cả ngày. Tôi đi học về, em nhảy
lên ôm chầm lấy cổ hôn chụt một cái vào má. Em giận dỗi: “Răng anh lại để cho Từ
ở nhà một mình?
anh không cho Từ đi học?”
Thế rồi em lặng lẽ ra đi.
Gần hai mươi năm trôi qua, tôi chẳng
thể nào quên được giây phút đau thương ấy.
Đầu giờ chiều, tôi ra biển cào nghêu. Một mình
lầm lũi đi được gần một giờ đồng hồ, khi
giỏ nghêu đã nằng nặng tôi tính chuyện quay về thì bỗng nhìn thấy một con cá đối
bị sóng đánh dạt vào bờ. Chú cá nhỏ nằm sõng sượt trên bãi
cát, uốn mình tuyệt vọng. Tôi lại gần, mang chú cá ra thả xuống nước. Vừa thả
xong, nó lại lụy bờ.
Điềm báo gì chăng? Chẳng mấy khi cá
đang sống dưới nước lại đột ngột ngoi lên bờ.
Tôi chạy vội về nhà. Khung cảnh
huyên náo lạ thường. Mự Thu, vợ chú Thọ đang ôm Linh Từ trên tay, nước mắt giàn
giụa. Tôi quăng giỏ nghêu xuống đất và lao đến ôm chặt lấy em.
Từ là gan ruột của tôi, nó là một
phần máu thịt,
một phần cơ thể của tôi. Em đau thì anh đau. Em khóc thì anh cũng sẽ khóc.
“Từ đi nắng về, tắm đột ngột, nôn
ra máu”, chú Nam nói gấp gáp, “đưa em đi viện ngay”.
Tôi bàng hoàng. Sau khi giội vài
gáo nước lạnh sau hồi, chỗ gần bụi chuối và cây khế chua, Linh Từ bỗng nhiên
ngã xuống. Em đã nằm bất tỉnh như thế mấy phút cho đến khi người nhà phát hiện
thấy.
Gương mặt em tái nhợt. Trên khuôn mặt
em vẫn dính cát, máu từ miệng đang chảy ra. Linh Từ thiêm thiếp. Nhưng Từ không
ngủ được. Nó khóc.
Chú Nam đẩy xe ra cổng. Chiếc xe đạp
cũ kỹ đã non hơi. Hai người lớn không thể ngồi lên chiếc xe đạp đánh đã non hơi. Người đang ướt đẫm nước mặn
và đang quần cộc chưa
kịp tắm, tôi nói: “Mự ở nhà, để cháu đi với chú!” Mự Thu trao Linh Từ cho tôi.
Chúng tôi đạp xe đi. Mự Thu vừa chạy theo sau xe vừa khóc gọi tên con.
Bệnh viện huyện Nghi Xuân cách
Cương Gián khá xa. Làm gì có xe máy, làm gì có ô tô cấp cứu. Cả làng ngày đó xe
đạp, đèn dầu. Con đường đất thân yêu bỗng trở nên khốn nạn, mỗi khi bánh xe trượt
ra khỏi lối mòn là tôi lại phải ôm Linh Từ nhảy xuống. Chú Nam vừa đạp xe, vừa
đẩy, vừa chạy. Hai chú cháu toát mổ hôi vượt qua cầu Rảo, qua xã Xuân Liên. Tôi
ôm chặt LinhTừ trong tay, ngắm khuôn mặt tái tím của em mà lòng dạ đau đớn, xót
xa. Thỉnh thoảng Từ uổn mình và khóc. Tôi dỗ dành: “Không can chi mô em ạ. Đi một
lúc rổi vê' với mẹ! Em đừng khóc nữa!”
Linh Từ
liên tục cất tiếng gọi mẹ.
Trên đường đi qua Trạm Y tế xã Xuân
Hoa, chú Nam đánh xe vào. Hình như đó là thủ tục cần phải làm trước khi chuyển
bệnh nhân lên tuyến trên. Một ông y tá mặc áo trắng đang ngồi đan rổ ngay tại
phòng trực.
“Bác ơi, cháu nhà tôi bệnh nặng lắm...”
chú Nam bế Linh Từ trên tay, giọng gấp gáp.
Ông y tá vẫn thản nhiên ngổi đan rổ,
không thèm nhìn lên.
Im lặng.
Sốt ruột
quá!
“Bác ơi! nhờ bác giúp cho!” chú Nam khẩn khoản. Ông
ta nghểnh mặt lên, hách dịch:
“Giúp giúp cái gì! Đây có phải cái
chợ đâu, không có móm à tao ngồi đây sao
không chào ?!”
“Dạ, chào bác!” chú Nam luống cuống.
“Nhờ bác giúp cháu bé, nó nôn ra máu!”
“Để đấy. Từ từ đã! Không thấy tao đang
dở tay đây à!” ông ta nói.
Tôi nhìn Linh Từ. Nó đã tái tím đi
nhiều rồi. Tôi lại nhìn gã áo trắng, ông ta vẫn thản nhiên ngồi đan rổ. Giờ thì
ông ta không thèm ngẩng mặt lên nữa, cứ thế đan.
Chú Nam vẫn liên tục khẩn khoản,
năn nỉ xin ông y tá khám bệnh cho cháu bé.
Nhưng đáp lại
là sự im lặng. Ông ta đang dở tay.
Khoảng 30
phút nặng nê trôi qua.
Cuối cùng, ông y tá cũng đứng dậy.
Tay ông ta phủi phủi vào đũng quần nhàu nhò bẩn thỉu đang bám mấy cọng tre.
“Đưa nó vào
giường đi!” ông ta hạ lệnh.
Ông y tá
khám qua loa, rồi phán:
“Cho đưa đi
viện!”
Khi chúng tôi rời cái bệnh xá có gã
áo trắng khốn nạn ấy, đạp xe lên huyện lỵ Nghi Xuân thì trời đã nhá nhem.
Nhập viện.
Tôi trao Linh Từ cho chú Nam rồi đứng chờ ở cổng. Trước khi từ
giã, tôi hôn lên má, vuốt vuốt tóc em.
“Em chóng
khoẻ, rồi về với anh”, tôi nói.
Từ kêu đau.
“Em đau
trong bụng lắm anh ơi!”
Đôi mắt em dại đi, đờ đẫn. Máu tươi
từ miệng em lại trào ra.
Hoàng hôn như ứa lệ bởi ráng đỏ
phía chân trời. Màn đêm buông xuống, tôi cứ thẫn thờ đợi Linh Từ ở cổng, cảm thấy
thời gian trôi thật lâu. Mự Thu, chú Thọ, anh em nhà chú Nam người chạy bộ người
đạp xe từ xã Cương Gián lên thị trấn Nghi Xuân, tất cả có mặt ở khu vực bệnh viện
chờ đợi tin tức của Linh Từ.
“Cháu về nhà nghỉ đi, thức đêm mệt
vả lại chẳng giải quyết được việc gì”, chị Xuân, người phụ nữ tốt bụng ở Tiên
Điền, sau này là chủ nhà trọ khi tôi họctrường cấp 3 Nguyễn Du khuyên. Chúng
tôi nán lại thêm vài giờ đồng hồ
nữa rồi lên xe trở vể Cương Gián, sau khi những người lớn đã phân công
người ở lại trực.
Quá nửa
đêm. Tôi vẫn thao thức. Linh Từ giờ này ra sao? liệu em có qua được cơn hiểm
nghèo này không? Gương mặt em hiện rõ trong tâm trí tôi. Mái tóc chớm vai đen
tuyền, nụ cười thiên thần, đôi má lúm đống tiền ửng hồng và cái miệng nhỏ xinh xinh lúc
nào cũng đỏ như tô son. “Anh Long có thương em không?”. “Có, anh thương em nhiều
lắm!”. “Anh là anh trai của em, anh nhỉ!”, “Ừ, anh là anh trai của em mà. Anh
trai là phải thương em chứ!” “Em lớn lên, anh cho Từ đi học với anh nhé!” “Anh
hứa!”
Tiếng sóng
biển ngoài kia vẫn ổn ào. Tôi mơ màng thiếp đi lúc nào không hay.
“Dậy lên
đưa em về. Linh Từ mất rồi!”
Trong giấc
mơ, một tiếng nói văng vẳng vọng đến.
Tôi giật
mình tỉnh thức. Quanh mình là bóng đêm nhợt nhạt. Có tiếng gà gáy le te cầm
canh.
Tự nhiên nước
mắt tôi ứa ra.
Tôi khóc.
Sáng vừa ngủ
dậy, chúng tôi nhận được tin sét đánh: Linh Từ đã mất.
Em bị xuất huyết đường ruột, dẫn đến
hoại tử, mất máu nặng.
“Giá như
cháu được chuyển lên Trung tâm y tế huyện sớm hơn thì chúng tôi có thể cứu sống
cháu”, bác sỹ trực tiếp điểu trị cho Từ bảo.
Chúng tôi ra đầu làng đón em. Chú Tửu
đi trước, chú Nam đi sau, giữa là chiếc võng cáng thi thể em tôi. Thi thể em bọc
trong tấm chăn nhỏ, bên ngoài là manh chiếu mỏng úa màu. Các chú gánh em đi bộ
từ thị trấn Nghi Xuân về nhà.
Người dân thôn Đông Tây nghe tin Từ
mất, nhiều người bỏ cả chuyến đi biển ở nhà đưa tang em.
Mự Thu khản giọng gọi tên con. Mự cứ
vùng chạy ra đường, như điên như dại.
Vài ngày sau khi Từ mất, có con
chim nhỏ bay về. Chú chim nhỏ màu xanh cứ quanh quẩn ở nơi chốn mà Linh Từ thường
vui đùa khi em còn sống.
Dưới nấm mộ em, ông nội không quên
bỏ vào đôi guốc mộc. Nhà nghèo, không có tiền mua dép cho em, ông Thọ lấy gỗ đẽo
cho em đôi guốc bé xíu xinh xinh để em đi. Đôi guốc ấy, với em nó như người bạn.
Gần hai mươi năm qua, trong giẫc ngủ
yên lành, tôi vẫn thường thấy thiên thẩn bé nhỏ hiện về. Vẫn mái tóc đen tuyền, má lúm đổng tiền, nụ cười trong
veo và thật hiền lành.
Không. Linh Từ không bao giờ mất. Từ
vĩnh hằng trên thế gian này.
Và anh luôn thương nhớ về em, thương nhớ kỷ niệm êm
đềm tuổi thơ. Kỷ niệm an ủi lòng anh trên đường đời ấm áp và cả khi cô đơn, lạnh
lẽo...
Tuổi hoa niên, Thủy đã còng lưng ngồi khâu
nón mưu sinh. Tôi vào đại học, Thuỷ vẫn cắt những chiếc lá thẳng ghép thành
hình cánh cung. Tôi ra trường đi làm gần hai mươi năm, mỗi lúc về vẫn thấy bạn
tôi lặng lẽ trước cửa đan những vòng tròn luân hồi.
Làm chị em trong một nhà, toàn gái
là gái. Thanh - Hương - Thuỷ - Bình - Nhạn. Vườn nhà Thuỷ trồng rất nhiều rau xanh, chiểu chiểu
mẹ Thuỷ hái đầy ắp một rổ mang ra chợ bán. Mỗi ngày chị em nhà Thuỷ khâu được 5
chiếc nón cộng tiển thu vế từ mớ rau xanh, cuộc sống của gia đình bạn tôi cũng
không đến nỗi tệ.
Nghề khâu nón quanh năm ngổi một chỗ,
dễ sinh bệnh đau lưng. Đồ nghề lỉnh kỉnh gồm cái khung tre mà là loại tre già mới
chống được mối mọt, nứa mua về chẻ thành những thanh dài ngắn khác nhau để làm
vành. Lá có 2 loại: lá xanh, lá trắng. Thường thì một chiếc nón lợp 3 lớp lá,
trong cùng lá trắng ở giữa lá xanh và bên ngoài lá trắng. Lá xanh xấu xí, lợp
giữa cho nón thêm chắc thêm dày. Cưóc khâu nón là loại cước trắng mịn, vừa
thanh vừa bển. Cây đùng đình chặt trên núi mang về phơi khô, chẻ lấy cật, dùng cước
khâu vào cái vành nón to nhất để trang trí. Mười ba vành giữa làm bằng nứa, chiếc
vành thứ 14 phải bằng tre, nhờ vậy chiếc nón mới cứng cáp.
Cương Gián xưa nhiểu tre. Những bụi
tre làng trồng ở phía đông, thành bức tường chắn gió vững chắc, tránh ánh nắng
gay gắt trưa nồm nam hun hút. Tre trồng quanh vườn
làm bờ rào bao bọc căn nhà, có bụi tre dày hàng mét đạn bắn không thủng. Một
tháng vài lần, ông nội tôi chọn cây tre nào cao to nhất thân màu vàng tía, hạ
xuống, chặt thành từng khúc ngắn roi ông ngồi chẻ ra làm vành nón. Một phần đem
ra chợ bán kiếm tiền đong gạo, phần còn lại
giữ cho tôi và cô em gái làm nón. Cứ 10 thanh tre, cột thành một bó Phơi vài nắng
thanh tre càng khô càng dẻo dai.
Lá nón mua của người dân Kỳ Anh, Cẩm
Xuyên bán ở chợ
Cương Gián, chợ huyện (gần Thạch Kim, Thạch Hà, Hà Tĩnh). Lá tươi mua vê phơi
khô, đem “li” cho phẳng phiu. Dụng cụ để “là” lá nón gồm một lò than, bên trên
bắc ngang chiếc lưỡi cày. Đợi cho lưóri cày nóng lên, vuốt thẳng chiếc lá, đặt
xuống, dùng chiếc “bùi nhùi” bằng vải ép mạnh. Tay phải ép “bùi nhùi” tay trái
từ từ kéo chiếc lá miết ngang qua chiếc lười cày. Bị sức nóng làm cho giãn ra, chiếc lá trở nên phẳng phiu, trắng tinh.
Lá xanh ở lớp giữa cũng qua công đoạn
“chế biến” như vậy, trước khi thợ làm nón đưa vào sử dụng. Ngoài làm nón, lá xanh còn được người
quê dùng làm lá tơi.
Lá nón “chế biến” xong, đem cất vào
trong chim để dùng dần. Sau công đoạn “là”, những chiếc lá đưcc bảo quản cẩn thận,
tránh độ ẩm. Chúng tôi ngồi trên chiếc ghế nhỏ, người Cương Gián gọi là chiếc
đòn gom 3 mảnh gỗ ghép lại, hình chiếc ghế mini, dùng dío sắc vót nứa, loại bỏ
cật, mắt vót thành hình tròn. Để tránh cật nứa làm đứt da, chúng tôi lấy mảnh vải
buộc quanh ngón
tay. Khi tất cả các thanh nứa đều được vót
tròn, cho vào khung, gọi là “vô vành”.
Những chiếc vành xếp chồng lên nhau
hình bậc thang, từ lớn đến nhỏ, từ thấp lên cao.
Máy chục chiếc lá trắng,
lá xanh phủ đều trên khung. Chúng được liên kết lại với nhau bằng nút thắt ở
phía đỉnh nón. Sau khi hoàn thành công đoạn lợp lá trong, đến lượt lớp lá xanh.
Lấy thềm một ít lá thải cắt thành mảnh nhỏ, lèn vào giữa lớp lá xanh cho chiếc
nón thêm phần chắc chắn. Ngoài cùng là lớp lá trắng, loại lá trắng nhất, đẹp nhất.
Khi công đoạn vô vành, lợp lá đã hoàn thành, một chiếc vành to nhất được đặt xuống
giữ lá bám chặt vào khung. Chúng tôi bắt đầu đan nón.
Phương ngữ Cương Gián lạ lắm, lạ đến
nỗi người cùng luyện Nghi Xuân nhưng ở khác xã nghe người cương Gián nói nhiêu
khi cũng chẳng biết “mô tê răng rứa”. Nhà, gọi là “dà”, biển gọi là “bể”, chân
gọi là “chin”, đường gọi là “đàng”, người gọi là “ngài”, cây xoan thì gọilà cân sauđâu
, núi gọi là rú , cái đau gỗi gọi là cây trúc gúi”. Công việc đan nón, dân
Cương Gián thường gọi là “nức nón”.
Mấy người bạn về quê chơi, nghe o Liên tuôn một loạt
liên thanh tiếng Cương Gián, há hốc mồm kinh ngạc không hiểu gì. o hỏi bạn tôi:
“Cháu mần
chi ở mô lấy gây chưa?”. Nó đứng nghệt mặt ra hổi lâu, ấp a
ấp úng loông trả lời được vì không hiểu o Liên hỏi gì. Tôi phải phiên dịch: “O
hỏi mày là: làm công việc gì, ở đâu, đã lấy vợ chưa?”.
Tôi không quên được những trưa hè
ngồi dưới rặng
tre đan nón.
Rặng tre tươi tốt, um tùm, cao mấy
chục mét vươn mình ôm lấy con đường nhỏ, ôm lấy khu vườn. Những thân cây tựa
vào nhau, những cành tua tủa đan vào nhau thành một bức tường kín mít đến gió
cũng khó lọt được qua. Mùa hè, nắng như thiêu như đốt, mùa gió gió Lào ngột ngạt
khiến cây cối quanh làng Cương Gián tơi tả, tan hoang, chỉ có bụi tre kiên cường
vẫn quanh năm mát rượi, xanh tươi.
Nhà nội tôi cạnh đường liên thôn.
Thi thoảng giữa trưa hè, những người đàn bà đi chợ về ghé vào xin nước uống. Họ
múc từng gầu nước, đổ vào chiếc nón cứ thế tu ừng ực không biết chán. Thứ nước
giếng mát lành làm dịu cơn khát, chẳng độc hại.
Chúng tôi ngồi quây quần bên nhau
đan nón. Câu chuyện lúc trầm lúc bổng lúc ồn ào náo nhiệt, khi lặng lẽ buồn
tênh. Tiếng cước chạm vào lá, kéo lên, nghe vun vút. Âm thanh đều đều lặp đi lặp lại, thành ra buồn buồn, ngái ngủ.
Một chiếc nón có hàng vạn mũi đan.
Gần chóp nón
đan rất dày nhưng càng xuống thấp mũi đan càng thưa hơn. Nghề đan nón cũng là một nghể mưu sinh.
Hồi đó mỗi chiếc nón đẹp bán được khoảng 5 ngàn đổng. Nón bình dân giá chỉ 2-3
nghìn đổng. Nón đẹp dành cho thiếu nữ đội trên đầu làm duyên, nón bình dân, dành cho bà già đi cấy, đàn ông đi
biển.
Tôi hình dung một mũi đan trên chiếc
nón là một hạt gạo.
Và thấy Thuỷ
như một cô Tấm dịu hiền.
Thuỷ trám tĩnh. Không đẹp nhưng là
người có duyên. Sự kín đáo, trầm tĩnh của người bạn gái ấy cũng là một cái
duyên. Thuỷ hướng nội, mặc kệ xung quanh. Có lẽ cái nghèo, cái vất vả làm bạn
tôi ít nói đi nhiều. Sau buổi học, Thuỷ về nhà giúp mẹ
hái rau. Khi rổ rau đã đầy, cô xắn tay vào đan nón. Làm nón là nghề chính của
Thuỷ. Dường như, bạn tôi sinh ra để vận vào vòng tròn luân hồi ấy. Vòng tròn khép kín như vòng
tròn số phận.
Người chị đi lấy chồng. Thủy vẫn ở
vậy. Đến lựợt người em đi lấy chồng, Thuỷ vẫn cứ độc thân.
Tôi rời quê ra thị thành, vẫn nhớ
mãi hình ảnh của Thuỷ ngồi bên chiếc nón lá. Dáng nhỏ cô đơn.
Hơn hai mươi năm sau tôi trở lại,
Thuỷ vẫn ngồi đan nón. Cô đã thêu dệt hàng triệu, hàng tỷ đường khâu như vậy rồi.
Tôi nhớ nao lòng luỹ tre trước ngõ.
Luỹ tre thân quen không còn nữa. Không còn tiếng xào xạc tre xanh mỗi trưa hè,
bóng tre đung đưa khi chiểu buông. Không còn những mắt lá thao thiết trong chiều
dài thăm thẳm, khi mình tôi trước ngõ ngồi đợi bà nội, o Liên với gánh hàng nặng
trĩu trên vai.
Mười sáu tuổi, tôi rời Cương Gián
lên xã Xuân Tiên (Tiên Điền) học tại trường THPT Nguyễn Du. Đây là trường cấp 3
duy nhất lúc đó của Nghi Xuân, mang tên
đại thi hào, nằm ngay ở Tiên Điền quê hương tác giả Truyện
Kiều. Sau này, tỉnh Hà Tĩnh thành lập thêm trường THPT đặt tại Xuân An, trường
THPT Nguyễn Công Trứ và một trường cấp 3 đặt tại xã Xuân Hca.
Từ Cương Gián đến Tiên Điền khoảng
nười kilômet, những con đường đất ôm lấy làng mạ, tre xanh. Chủ nhà trọ là chị
Xuần. Chị Xuân làm nông, thêm
nghề bán gạo ở
chợ. Sáng mờ sương chị đội thúng gạo ra chợ Giang Đình bên bến Giang Đình gần
sông Lam bán lẻ từng cân.
Chồng đi xa, mình chị Xuân làm lụng
nuôi mẹ già và 3
đứa con. Cùng ở với tôi, có Nguyễn Mậu Lân, người Cương Gián là bạn học. Cuổi
tuẫn, chúng tôi về nhà
chuẩn bị hai cân rưỡi gạo, một ít muối, nước mắm và cá khô. Tiêu chuẩn một ngày
năm lạng gạo chi làm hai bữa trưa và tối. Thời buổi cơm cao gạo kém cuổi thập kỷ
80 của thế kỷ truớc, có gạo mà ăn đã là may. Thỉnh
thoảng chúng tôi phải mang thêm củi từ quì lên, còn thức ăn đầu năm học đến cuối
học kỳ hầu như chỉ có cá khô. Buổi trưa, cơm với cá khô. Buổi chiều khô và cơm.
Ngày lại ngày, tháng qua tháng, năm liền năm điệp khúc cá khô buồn tênh. Đã
nghèo lại lắm ruồi. Ruồi bay
loạn xạ, ruồi nhảy dù vào nồi canh tử tụ
chết không một tiếng vang. Nhưng chẳng hề chi, múc ruồi đổ xuống đất, ăn tuốt, không để
phí một con cá rào.
Nhiều bữa ngồi trong lớp học bụng
đói cồn cào. Buổi
sáng, chị Xuân thỉnh thoảng lại cho hai anh
em bát khoai độn lạc, nhưng cơ bản là nhịn đói đi hiọc, chẳng miếng gì
vào bụng. Ba bốn giờ nhịn đói, tiếng thầy giảng bài rồi cũng nghe câu được câu
chăng. Tôi và Lân nhìn ra sân trường, cũng như tôi, cậu bạn tinh nghịch chẳng
thể nghĩ gì hơn ngoài cơn đói đang cổn cào gan ruột. Chúng tôi mong cho tiếng
trống tan giờ học để rảo cẳng về nhà, sà
vào mâm cơm độn khoai nghi ngút khói.
Tôi và Trầm Hương học cùng lớp,
cùng trường. Mỗi buổi đi học về, thể nào hai đứa cũng đi chung một đoạn trên
con đường dài. Cô bạn cùng lỏp tóc dài ngang vai, má lúm đồng tiền, mỗi lẩn
giáp mặt là hai má em tự nhiên ửng hồng.
Nơi tôi trọ cách nhà em cánh đổng.
Sau giờ học bài, đêm khuya thanh vắng tôi nằm tưởng tượng ra bao nhiêu điều thú vị. Tôi nghĩ cách tiếp cận.
Tôi đánh bạo hỏi mượn Trầm Hương vài
quyển sách văn (dù sách học
văn, tôi đã có đủ rồi). Đêm đến, tôi bảo với Chất, con trai đầu lòng của chị
Xuân:
“Mi đi sang
xóm bên trả sách với tau nhé!”
Nghe nói đi chơi, Chất phấn khởi hẳn.
Chúng tôi chuồn ra khỏi
nhà. Đèn nhà em vẫn sáng. Lúc ra khỏi nhà hăng hái bao nhiêu thì lúc đến ngõ
nhà Trầm Hương lại rụt rè bấy nhiêu. Bao nhiêu hào hứng bỗng tan biến hết, tim
đập loạn xạ.
Tôi và Chất lóng ngóng đứng ở cổng, hai thằng đùn
nhau gọi cửa. “Mi thích nó, mi đi mà gọi!”, Chất bảo. Cuối cùng, tôi bèn lẫy hết can đảm gọi
“Hương ơi!” Bên trong tấm liếp có tiếng vọng ra:
“Ai đấy? Đợi
tý!”
Cánh cửa làm bằng tấm phên giơ lên,
nghe rõ tiếng cót két
của những thanh nứa cà vào nhau. Trầm Hương thò đầu ra ngoài. “Ối giời ơi tưởng
anh nào. He he! Bạn vào nhà đi!”
Bạn. Thế thôi. Là bạn bè. Còn xưng
hô thế nào khác được?
“Bạn đến trả sách à? Răng không để đọc cho xong rồi hãy mang trả?” “À! Ừ! Trả
sách!” Tôi lóng nga lóng ngóng. Khỉ thật! Sao thằng tôi như sắp cấm khẩu thế nhỉ.
Giờ thì nhìn đầu cũng thấy thừa. Trên điu là vầng sáng của ngọn đèn dẫu, tôi ngẩn
người đếm được bao
nhiêu cái rui mè nằm dọc nằm ngang. Dưới đất, con chó thấy mùi lạ cứ sấn đến,
nhè hàm răng sắc thọn cạp cạp vào chân tôi. Sao không nhìn thẳng vào em thử xem? Tôi thách đấy. Tôi thách
tôi nhìn thẳng
vào em.
Cứ ngồi đực ra như thằng đần, chẳng
biết nói cả. Vài chục phút như vậy, cô nàng bắt đầu thấy chán, ngáp vặt. Bảo: “Trả sách xong rồi thì về
đi, còn phải học hành!” Tôi và
Chất lủi thủi ra vẽ.
Trên đường
vẽ, Chất hỏi:
“Rứa thôi
à?”
Tôi im lặng.
Một hôm, thằng Xô bạn học cùng lớp
kéo tôi rí góc vắng. Nó hí hửng cho tôi xem một vật lạ, mà từ sáng đến trưa nó khư khư giữ trong tay.
Xô thận trọng bóc lớp giấy bọc bên ngoài, chìa ra một hộp phấn trang điểm. Cái thứ khỉ gió này bốc mùi
hăng hăng, khó chịu.
“Của ai vậy mày?”, tôi hỏi.
“Trầm Hương!” thằng Xô đáp.
“Răng mi lại có nó?” tôi giật mình
hỏi dồn.
“Ngồi bên cạnh,
lúc nó lấy từ trong cặp ra, tao bóp luôn” Xô nói.
“Mi lấy hộp phấn của nó mần chi?”
“Tao thích
nó. Trầm Hương rẫt đẹp, đúng không? Bây giờ tớ sẽ dùng nó để làm con tin. Nàng
sẽ tìm đến tao mà xin xỏ nhé!” thằng Xô ranh mãnh.
Tôi tê dại. Cảm giác mình sắp...mất
nàng đến nơi.
“Mi cũng
thích Trầm Hương à?” tôi hỏi, ra vẻ không để ý.
“Thích chết đi được!” Xô thật thà.
Vậy mà đã
hai mươi bổn năm trôi qua. Chất học xong cấp ba, vào bộ đội, xuôi Nam. Lạng, em
trai của Chất cũng đã lập gia đình. Hoài, cô em gái út đã có chồng, hiện đang sống
ở làng bên. Năm trước về Tiên Điển,
tôi gặp Hoài đang bán hoa quả ở chợ. Vẫn khuôn mặt trái xoan, vẫn tóc dài đen
nhánh, nhưng trông em đã lạ đi nhiều.
Trầm Hương đã sang bên kia dòng Lam.
Cứ năm hết
tết đến, lũ bạn cũ trường làng lại í ới gọi nhau họp lớp. Đám trẻ chúng tôi
ngày xưa, bây giờ có đứa đã lên ông, lên bà. Mừng cho lũ bạn thoát nghèo, nhà
cao cửa rộng.
Những khóm
tre xanh biến mất. Cương Gián bê tông hoá ồ ạt. Con đường làng chang chang nắng
tung mờ cát bụi bây giờ nhuốm màu thâm trầm của nhựa, màu trắng nhạt của bê
tông.
Tôi thèm lang thang trên con đường
lấm lem bùn đất.
Vài năm trước, Cương Gián lên cơn sốt
đất. Người trong làng đi lùng mua đất khiến giá bất động sản bỗng nhiên tăng vọt.
Đắt giá nhất là khu vực bám mặt cường liên xã, một mét chiều ngang lên tới cả
trăm triệu đồng. Những
thửa đất nằm trong ngõ xóm bấy lâu bị bỏ quên nay cũng rùng rùng đội giá trên
trời. Dân mua rất là những
người đi XKLĐ từ Hàn Quốc về, nhiều người tiền tỷ
cầm trong tay. Họ tậu đất, xây nhà mới. Người Cương Gián thành đạt nơi xa xứ hầu
hết đểu muốn về nơi quê cha đất tổ.
Làng đổi thay chóng mặt. Những nhà
tầng khang trang
thay thế cho lều tranh mái ngói cũ nát. Nhà chóp nhọn nhô cao, mái thò vào thụt
ra, biệt thự qutt sơn xanh đỏ tím vàng ngô nghê. Lũ lượt Cương Gián
kẻ đi, người về. Đám trai làng sau nhiều năm lao động ở bên kia trở về, lúc nhàn rỗi thủng thẳng ra biển
ngắt sóng hoặc tụ tập nhau ngồi uống cà phê đầu làng tái gẫu. Năm trước ai nấy
nghèo rớt mồng tơi kiếm ăn lẩi hồi, đến chiếc xe đạp cà tàng cũng không có mà
đi, say xe máy rất
sang bấm còi inh ỏi. Nhiều người sắm ôtô.
Tôi đi trên đường làng, lẩn thẩn nhớ những ngày xưa.
“Nhờ XKLĐ mà thoát nghèo. Chứ bám biểi bám đồng mãi cũng khổ”, bạn tôi nói. Chục
năm trước
ngư dân Cương Gián đánh bắt được con cá to, khônị dám bỏ vào nồi,
họ nhịn ăn mang ra chợ bán kiếm tiền đong gạo. Nay khá lên, cái ăn nếp nghĩ
cũng khác.
13.
Tiếng chổi sột soạt ngoài sân làm
chúng tôi bừng tỉnh. Bà nội thường dậy rất sớm, có hôm bà thức dậy sớm dọn dẹp
đồ đạc trong
nhà, có hôm tờ mờ sáng đã thấy bà bó gối ngồi một mình bên bếp than. Những hòn
than đã bén lửa, rực cháy khiến góc nhà sáng bừng lên.
Ánh sáng hắt ra từ đám lửa soi tỏ
khuôn mặt người, khuôn mặt răn reo dãi dầu vì mưa nắng. Những nếp nhăn của mồ
hôi nhọc nhằn quảy gánh đường trơn, của tháng năm bôn ba xuôi ngược. Nếp nhăn
trẩm lặng của một đời yên phận, không bao giờ bà cất tiếng thở than. Có đều chi không vui, bà thường lặng lẽ
ngổi một mình ở góc khuất, và khóc.
Ngoài kia, bình minh đã lên. Bình
minh mùa đông không có sắc hồng ở phía
chân trời không màu nắng tinh khiết ban mai xuyên qua liếp cửa. Bầu trời như
tàn tro nguội lạnh, gió bấc vê hắt hiu, mang theo cơn mưa rả rích, dầm dề. Những
lúc ấy, bếp than hồng xua tan
không khí tịch liêu, làm căn nhà nhỏ trở nên ấm áp.
Thỉnh thoảng, tôi và em gái rủ nhau
đi nhặt lá về làm củi. Dọc
bờ biển Cương Gián trổng nhiều phi lao, rừng phi lao lạc trong vườn nhà dân,
phi lao bạt ngàn dọc bờ biển. Mỗi người mang theo một chiếc gánh, một cái bàn
cào, chúng tôi nhặt lá. Thần cây phi lao khi đã vào lò, cháy hết rồi thì biến
thành than. Bà nội tôi gom những vỉa than nóng, tưới nước cho lửa tắt, rồi bà
đem phơi khô để làm chất đốt sưởi ấm mùa đông tháng rét.
“Trong các loại than, than phi lao
đượm nhát”, bà thường nói như vậy.
Than đượm là loại than dễ bén lửa,
giữ nhiệt tốt và thời gian cháy lâu hơn các loại than củi khác. Vì thế, người dân Cương Gián thích
dùng than phi lao.
Nhu cầu tiêu thụ than rát lớn nên trước
đây nông dân Can Lộc, Thạch Hà (Hà Tĩnh) thường lên núi Hồng Lĩnh đốt than đem
về bán cho dần Cương Gián. Họ trèo lên đỉnh núi cao, đốn củi, phơi khô, dùng lửa thiêu cháy những đống cây to
tướng cổt chỉ để lấy than đem bán. Những người làm nghề đốt than luôn mang bộ dạng
khác đặc trưng, khuôn mặt đen đúa rám lắng, quần áo lấm lem đất bụi. Nhiều khi
người đỗt than bất cẩn để lửa
lan rộng thiêu trụi cả khu rừng, có đám cháy mù mịt kéo dài mẫy hôm liền. Sau
trận hoả hoại núi Hổng Lĩnh hình thành những đám vằn vện như di báo. Chỗ lửa
hoành hoành, để lại màu tối, xám xịt. Ngày' ấy dân Cương Gián thường dự trữ 3
thứ trong nhà: giò, cá khô và
than.
Bên bếp than hồng, gia đình quây quần
bên nhau, già trẻ
lớn bé ngồi quây thành vòng tròn, thầm câu chuyện kể.
Chuyện làng, chuyện
xã, chuyện mùa nàng, chuyện gió mưa, biển động. Những câu chuyện không đầu
không cuối đan xen nhau, gối lên nhau như than hổng đêm lạnh.
Mưa rả rích
thì có thể làm gì được. Mùa mưa đi kèm với biển
động cồn cào, mưa gió vắn vũ gây trở ngại những chiếc thuyền ra khơi. Đường quê
lầy lội và trơn, mưa giăng màn che kín bầu trời, níu chân nẻo về trên nẻo đường
xa. Bếp than hồng là nơi
khu trú của tháng ngày rét mướt.
Thiếu tivi và đài, thừa muỗi và thật
nhiều cơn đói giêng hai. Nhớ mỗi lần tôi về thăm quê, bà nội lại cặm cụi quạt
lò nhóm than cho cháu sưởi ấm. Một mỗi lửa, đám than đã bùng lên, hơi ấm lan toả
khắp căn nhà nhỏ. o Liên đưa con từ Nam Đàn về quê nội.
Niềm vui từ đứa con làm o hồi sinh. Em
gái tôi lấy chồng, thoắt cái đã con bồng con bế. Cương Gián bùng nổ phong trào
xuất khẩu lao động, chồng của em gái tôi bay sang Đài Loan làm nghề đánh cá
lương ba cọc ba đổng, lại phải quăng quật giữa biển khơi. Hậu thường xuyên gọi
điện về kêu khổ. “Làm việc cực nhọc nhưng chỉ được ăn toàn bánh bao. Ngày ba bữa
bánh bao, suốt ngày ăn bánh bao không chịu nổi anh ơi!” Hậu kể. Tôi nói, khổ
quá thì về. Thế là Hậu về nước. Trước khi đi Đài Loan Hậu bán hết ngư cụ, trở lại
quê hương em chẳng có nghề nghiệp gì,
lại nộp hổ sơ đi Hàn Quốc.
Đời trai miền
biển cứ mãi lênh đênh.
Khi toàn xã đua nhau đi nước ngoài,
thì chú Nam vẫn đủng đỉnh ở nhà. “Để xem, tớ ở quê mà vẫn giàu”, chú nửa đùa nửa
thật. Tính chú như vậy, xưa nay suy nghĩ chẳng giống ai và thường làm những việc
chẳng giống ai. Thời đất đai ở xã đang rẻ, chú góp được một ít tiền
mua mấy vạt đất dự phòng. Đến khi người làng ở Hàn Quốc đổ tiền về quê, thanh
niên đua nhau mua đất, cưới vợ, xảy nhà. Giá đất bỗng nhiên tăng vùn vụt, chú
Nam trở nên giàu một cách âm thầm. Nhưng chú bảo, đất đai để ở chú không bao giờ
bán.
Sau ngày Linh Từ mất, rồi chồng ra
đi, mự Thu như hóa thành chiếc bóng của chính mình. Nuôi con, mự Thu phải gồng
mình chạy chợ, làm lụng trăm nghê. Có dạo, mự phải xa nhà đi làm thuê trong Nam
ngoài Bắc, thân cò lặn lội mom sông. Người nhiều, việc ít, khi trở về trong túi
chẳng có đồng nào. Trần Thị Thái, em của Linh Từ đi xuất khẩu lao động ở Đài
Loan, rồi sang Hàn Quốc thấm thoắt đã gần chục năm. Số mự vất vả, mang tiếng có
con đi nước ngoài nhưng tính ngược trừ xuôi có khi huề vốn. Mự làm bánh đa, nấu kẹo lạc, hàng ngày
mang ra chợ Cương Gián bán.
Đã qua rồi cảnh đút bữa ngày ba
tháng tám, cũng đã hết thời cơm độn sắn, thêm khoai. Dân quê tôi đoạn tuyệt quá
khứ bần hàn, trở thành xã kiểu mẫu của tỉnh nghèo Hà Tĩnh.
Sáng qua thức dậy, trời quê đã xanh
trong. Dưới bóng Lam Hồng, thoáng
chốc đã hơn hai mươi năm lẻ, đã khép chặt dĩ vãng buồn thương. Làng thanh bình,
đổi thay, nhưng đất quê vẫn còn mái bếp than hồng rực sáng.
Bà nội của tôi vẫn ngổi đó, bên bếp lửa ấm áp truyền
kỳ. Tôi có cảm giác như bà đang giữ lửa cho con cháu mai sau.
Quang Long - NXB Văn học, 2014
0 nhận xét:
Đăng nhận xét